Giữa biên cương Thông Thụ (tỉnh Nghệ An), nơi những dãy núi trập trùng nối nhau đến tận đường biên, có một bản nhỏ nằm nép mình bên lòng hồ thủy điện Hủa Na. Bản Na Hứm vào những buổi sáng chìm trong sương mỏng, rừng mét, rừng quế soi bóng xuống mặt nước phẳng lặng. Ở mảnh đất tái định cư từng nhiều xáo trộn ấy, một hướng sinh kế bền vững đã âm thầm hình thành, lan tỏa.

Một góc khu rừng của bản Na Hứm – vùng đệm Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt. Ảnh:Đình Tiệp.
Người khởi nguồn cho câu chuyện ấy là ông Lô Văn Sinh, người dân tộc Thái, một lão nông rắn rỏi, giọng nói chậm rãi, hiền hòa. Ông không ồn ào, không nói nhiều, nhưng khu rừng mét, quế và những mùa trà hoa vàng rực rỡ đã kể thay ông câu chuyện về một con đường phát triển khác – nơi rừng nuôi người, người giữ rừng.
Sống nhờ rừng nhưng không lấy tài nguyên rừng
Ông Lô Văn Sinh sinh năm 1965 trong một gia đình nghèo khó ở bản Hủa Na,xã Thông Thụ(huyện Quế Phong cũ), tỉnh Nghệ An. Tuổi thơ của ông gắn với những bữa cơm độn sắn, những mùa giáp hạt dài lê thê và những cánh rừng vừa là chỗ dựa, vừa là nguồn sống duy nhất của cả bản.
Rừng ngày ấy nuôi con người bằng củ sắn, củ mài, măng, bằng nương rẫy nhỏ lẻ. Nhưng rừng cũng dạy cho cậu bé Lô Văn Sinh thủa ấy một bài học giản dị: nếu lấy đi quá nhiều, rừng sẽ cạn.

Bản tái định cư Na Hứm nhìn từ trên cao. Ảnh:Đình Tiệp.
Xuất ngũ năm 1987 trở về quê hương lập gia đình, cuộc sống của gia đình ông cũng như bao hộ dân khác ở Thông Thụ quanh quẩn với nương rẫy, chăn nuôi nhỏ lẻ, thu nhập bấp bênh.
Bước ngoặt lớn khithủy điện Hủa Nađược xây dựng. Gia đình ông Sinh cùng hàng chục hộ dân phải rời bản làng cũ, lên bản tái định cư Na Hứm. Nhà cửa khang trang hơn, đường sá mở rộng, nhưng sinh kế vẫn là bài toán khó. “Lúc đó rừng nhiều lắm, nhưng nếu cứ phát rẫy, chặt cây thì vài năm là hết. Rừng mất mà cái nghèo vẫn còn”, ông Sinh nhớ lại.
Khoảng chục năm trước, trong một chuyến tham quan học tập mô hình kinh tế rừng, ông Sinh lần đầu biết đến câytrà hoa vàng– một loài dược liệu quý, giá trị cao, đặc biệt phù hợp trồng dưới tán rừng.
“Cây này không ưa nắng gắt, thích đất rừng ẩm. Nghe xong tôi nghĩ ngay đến rừng mét, rừng quế ở Na Hứm”, ông Sinh hào hứng kể.

Cây quế Quỳ hàng chục năm tuổi của ông Lô Văn Sinh. Ảnh:Đình Tiệp.
Không phá trắng rừng, ông chỉ phát dọn vừa đủ từng khoảnh nhỏ, giữ nguyên tán che. Những cây trà hoa vàng đầu tiên được trồng xen dưới rừng mét cao vút, giữa hương quế Quỳ thoang thoảng.
Những năm đầu, trà lớn chậm, chưa cho thu hoạch. Có lúc ông nản, nhưng rồi những bông hoa vàng đầu tiên nở rộ dưới tán rừng đã mang đến niềm tin mới. Trà hoa vàng cho hoa đều, màu sắc đẹp, chất lượng cao, được thương lái tìm đến tận bản thu mua với giá ổn định.
Hiện nay, gia đình ông Sinh có hơn 6ha quế, khoảng 4ha mét, một phần diện tích là cây bo bo cùng diện tích lớn trà hoa vàng trồng xen dưới tán rừng với số lượng lên đến hơn 2 nghìn cây. Mỗi vụ thu hoạch, riêng tiền bán trà hoa vàng đã đạt trên 100 triệu đồng. Cộng với thu nhập từ quế, măng mét, chăn nuôi trâu bò, cá ao, tổng thu nhập hằng năm lên đến vài trăm triệu đồng – con số không nhỏ ở vùng biên giới như Thông Thụ.

Ông Lô Văn Sinh rất thành công với mô hình trồng trà hoa vàng dưới tán rừng. Ảnh:Đình Tiệp.
Ngoài diện tích rừng trồng do gia đình tự đầu tư, ông Sinh còn được Nhà nước giao quản lý hơn 3ha rừng. Từ diện tích rừng này, gia đình ông được hưởng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, đồng thời tham gia các cơ chế giảm phát thải khí nhà kính (EAPAR).
“Đây là rừng Nhà nước giao, mình có trách nhiệm giữ cho tốt. Tiền dịch vụ môi trường rừng không lớn ngay nhưng ổn định, lâu dài”, ông Sinh nói. Dưới tán rừng, ông còn nuôi hàng chục con trâu, bò, đào 2 ao cá, tổ chức chăn nuôi theo hướng tuần hoàn, phân chuồng được ủ để bón cho rừng.
Lan tỏa “sinh kế xanh”
Hiệu quả từ mô hình của ông Lô Văn Sinh nhanh chóng lan tỏa trong bản Na Hứm. Ban đầu nhiều người còn nghi ngại. Nhưng khi thấy rừng vẫn xanh, thu nhập ngày một khá, bà con bắt đầu làm theo.
Bên cạnh hộ ông Sinh, ông Ngân Văn Thủy, Lữ Văn Bảo, Ngân Văn Thanh cũng là những người đầu tiên mạnh dạn trồng trà hoa vàng dưới tán rừng quế, tạo nên phong trào sản xuất mới trong bản.
Theo ông Ngân Văn Tuấn, Trưởng bản Na Hứm, toàn bản hiện có 69 hộ dân với 268 nhân khẩu, 100% số hộ đềutrồng quếvới tổng diện tích hơn 50 ha, diện tích trà hoa vàng gần 60ha, cây mét gần 20ha, cây bo bo cũng được mở rộng lên gần 30ha.

100% hộ dân ở bản Na Hứm trồng cây quế Quỳ và phát tển kinh tế gắn với rừng. Ảnh:Đình Tiệp.
Nhờ đa dạng sinh kế gắn với rừng, bản Na Hứm đã có hàng chục hộ khá, thu nhập bình quân đầu người trên 35 triệu đồng/người/năm – mức thu nhập khá cao đối với một bản vùng sâu biên giới của Nghệ An.
Không chỉ được người dân trong bản học theo, mô hình kinh tế dưới tán rừng của ông Lô Văn Sinh còn nhận được sự đánh giá cao từ chính quyền địa phương và cơ quan quản lý rừng.
Theo ông Bùi Văn Hiền, Bí thư Đảng ủy xã Thông Thụ, mô hình của ông Sinh là điển hình nhất về phát triển sinh kế gắn với bảo vệ rừng trên địa bàn xã trong nhiều năm qua. “Điểm đáng quý ở mô hình của ông Sinh không chỉ nằm ở hiệu quả kinh tế mà còn ở cách làm bài bản, bền vững. Ông không phá rừng để trồng mới mà tận dụng tối đa tán rừng sẵn có, vừa giữ được độ che phủ, vừa tạo thu nhập ổn định. Đây là hướng đi rất phù hợp với điều kiện vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số như Thông Thụ”, ông Hiền nhận xét.

Những cây quýt trĩu quả được trồng xen trong khu rừng của ông Lô Văn Sinh. Ảnh:Đình Tiệp.
Cũng theo ông Hiền, mới đây Nghị định 183/2025/NĐ-CP được ban hành đã bổ sung đầy đủ hành lang pháp lý cho hoạt động nuôi, trồng và khai thác cây dược liệu trong rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất nên xã đã mạnh dạn đưa nội dung này vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ nhất nhằm vừa phát triển kinh tế, vừa bảo vệ tài nguyên rừng.
Để hiện thực hóa Nghị quyết, chính quyền địa phương đã chọn mô hình của ông Sinh làm mô hình điểm để tuyên truyền, vận động người dân chuyển đổi phương thức sản xuất, từng bước hạn chế tình trạng phát nương làm rẫy, chặt phá rừng. Xã cũng đang phối hợp với các ngành chức năng hỗ trợ kỹ thuật, kết nối tiêu thụ sản phẩm trà hoa vàng, quế và các sản phẩm lâm nghiệp ngoài gỗ giúp người dân yên tâm gắn bó với rừng.
Ở góc độ bảo tồn, ông Nguyễn Văn Sinh, Giám đốc Ban quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt đánh giá rất cao mô hình của ông Lô Văn Sinh, nhất là khi Na Hứm nằm ở vùng đệm Khu Bảo tồn.
“Bảo vệ rừng lõi không thể tách rời việc ổn định sinh kế cho người dân vùng đệm. Những mô hình như của ông Lô Văn Sinh cho thấy khi người dân sống được nhờ rừng, họ sẽ tự giác bảo vệ rừng. Trồng trà hoa vàng dưới tán rừng kết hợp quế, mét và chăn nuôi không chỉ mang lại thu nhập mà còn góp phần duy trì cấu trúc rừng, tăng khả năng hấp thụ carbon, phù hợp với định hướng quản lý rừng bền vững hiện nay”, ông Nguyễn Văn Sinh nhấn mạnh.

Cây quế Quỳ giống được Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt ươm để cung ứng cho người dân. Ảnh:Đình Tiệp.
Ban quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt đang phối hợp với chính quyền địa phương chọn một số hộ tiêu biểu, trong đó có hộ ông Lô Văn Sinh để nhân rộng mô hình ra các xã vùng đệm khác gắn với các chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng và giảm phát thải khí nhà kính.
Na Hứm nằm trong vùng đệm Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt. Khi người dân sống được nhờ rừng, áp lực lên rừng tự nhiên giảm rõ rệt. Những cánh rừng vùng đệm trở thành “lá chắn xanh” bảo vệ rừng lõi, góp phần duy trì đa dạng sinh học, giữ nguồn nước cho hạ du.



















