Mở rộng mô hình lúa gạo thế hệ mới
Theo ông Tuấn, sản lượng lúa thế giới đã đủ đáp ứng nhu cầu. Niên vụ 2025-2026 dự báo đạt 556,4 triệu tấn. Nhiều quốc gia đã tự chủ lương thực. Trong khi đó, biến đổi khí hậu, yêu cầu giảm phát thải và tiêu chuẩn thị trường trở thành sức ép chính.

Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Ảnh:Bảo Thắng.
“Mô hình tăng trưởng bằng sản lượng không còn phù hợp”, ông Tuấn nhận xét và chỉ rõ, ngành lúa phải chuyển sang “kinh tế lúa gạo”, tức giá trị nằm ở cách trồng thay vì chỉ ở hạt lúa.
Việt Nam từng tăng trưởng nhờ năng suất. Hiện năng suất khoảng 6 tấn/ha, sản lượng hơn 43 triệu tấn mỗi năm. Dư địa tăng thêm không còn nhiều. Do đó, ngành nông nghiệp định hướng giai đoạn tới phải tập trung chất lượng và phát thải thấp.
Bộ Nông nghiệp và Môi trườngđã triển khai nhiều chương trình liên quan tới vấn đề này, như Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở ĐBSCL, hay Đề án Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035… Trên cơ sở đó, người nông dân trồng lúa kiểu mới có thể có thêm thu nhập từ thị trường carbon, thay vì chỉ bán gạo.
Để đạt được, nông dân phải áp dụng quy trình canh tác chuẩn: giảm giống, giảm phân, giảm thuốc, tưới ngập khô xen kẽ, quản lý rơm rạ. Kết quả thử nghiệm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trên các mô hình cho thấy, giảm phát thải metan từ 20-40% và lợi nhuận tăng hơn 30%.
Hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm tra (MRV) phát thải đang được xây dựng. Khi có dữ liệu, ruộng lúa đủ điều kiện tham gia cơ chế tài chính carbon.
Cùng với đó, cơ giới hóa và số hóa được đưa vào đồng ruộng. Drone gieo sạ, bón phân; dữ liệu vùng trồng được ghi nhận. Đó là những yếu tố nền tảng để gạo có thể truy xuất nguồn gốc.
Vụ trưởng Nguyễn Đỗ Anh Tuấn nhìn nhận, thế hệ nông dân tương lai không chỉ “bán lúa” mà còn “bán quá trình canh tác”. Thu nhập tăng thêm đến từ gạo chất lượng cao và phần giảm phát thải được ghi nhận.
Trong quy trình canh tác mới, hợp tác xã được xác định là trung tâm tổ chức sản xuất và liên kết doanh nghiệp. Đồng thời, người trồng lúa phải là bên hưởng lợi trực tiếp thì mô hình mới vận hành được.
“Việt Nam đề xuất các nước trong khu vực chia sẻ công nghệ giống chịu khí hậu, thống nhất tiêu chuẩn phát thải thấp và tiến tới công nhận tín chỉ carbon nông nghiệp”, ông Tuấn nói tiếp và đề nghị Ngân hàng Thế giới (WB) quan tâm, hỗ trợ tài chính xanh và cơ chế trả tiền theo kết quả giảm phát thải. Mục tiêu là nâng hiệu quả kinh tế, giảm phát thải và minh bạch chuỗi giá trị lúa gạo.

Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và Lào. Ảnh:Bảo Thắng.
Thu hút người dân tham gia nhiều hơn vào chuỗi giá trị lúa gạo
Ông Sergiy Zorya, chuyên gia nông nghiệp của WB phân tích, chuỗi giá trị lúa gạo đang chuyển sang 4 mục tiêu: giảm chi phí cho nông dân, nâng chất lượng và tiếp cận thị trường, gắn nông hộ nhỏ vào chuỗi và giảm tác động môi trường.
Để đạt được, bên cạnh giảm giống, phân và hóa chất, sử dụng giống tốt hơn, người dân còn phải liên kết với nhà máy xay xát và áp dụng kỹ thuật gieo sạ thẳng, tưới tiết kiệm nước.
Tuy nhiên, chính sách có thể thúc đẩy hoặc cản trở quá trình này.
Các chương trình trợ giá sản lượng, trợ cấp phân bón và can thiệp giá thường khiến nông dân sử dụng nhiều đầu vào hơn thay vì dùng hiệu quả. Dự trữ lúa quy mô lớn cũng làm giảm vai trò khu vực tư nhân.
Ở chiều ngược lại, các chính sách được xem là hỗ trợ chuyển đổi gồm trợ cấp giống mục tiêu, đầu tư hiện đại hóa thủy lợi để áp dụng tưới ngập khô xen kẽ, nghiên cứu, khuyến nông và hỗ trợ nâng cấp nhà máy xay xát.
Số liệu cho thấy, Việt Nam đã giảm dần hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất lúa, đồng thời tăng chi cho nghiên cứu, dịch vụ khuyến nông và hạ tầng sau thu hoạch. Chi ngân sách cho lúa gạo cũng giảm từ 0,5% GDP năm 2013 xuống 0,2% năm 2023.
Bước kế tiếp là điều chỉnh lại các nhóm chính sách liên quan tới thương mại và dự trữ, trợ cấp đầu vào, giá nước tưới, hiện đại hóa thủy lợi và dịch vụ tư vấn kỹ thuật, theo TS Zorya. Mục tiêu là tạo điều kiện để nông dân thay đổi cách canh tác và tham gia chuỗi giá trị, thay vì chỉ tăng sản lượng lúa.

Chương trình hội nghị diễn ra từ ngày 2-5/3 tại Hà Nội. Ảnh:Bảo Thắng.
Những thay đổi này ngày một rõ nét tại vựa lúa ĐBSCL, nơi chiếm 56% sản lượng và 90% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, các hướng nghiên cứu mới chuyển từ mục tiêu tăng sản lượng sang chất lượng và môi trường. Các chương trình chọn tạo giống ưu tiên hạt thơm, tỷ lệ xay xát cao, chịu mặn, hạn, nhiệt và giảm phát thải.
Giống lúa cũng phải phù hợp cơ giới hóa. Thời gian sinh trưởng rút xuống 90-110 ngày, chín đồng đều, chống đổ ngã để gieo sạ và thu hoạch bằng máy. Cách làm này giảm lượng giống và lao động, đồng thời giảm thất thoát sau thu hoạch xuống dưới 5%, thay vì 15-20% như trước đây.
Viện Lúa ĐBSCL, đơn vị nghiên cứu đã chọn tạo hơn 160 giống lúa và chiếm khoảng 60-65% diện tích trồng lúa tại ĐBSCL, đã chuyển hướng từ “tăng năng suất bằng mọi giá” sang 3 mục tiêu: hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội và môi trường. Những mô hình canh tác tích hợp lúa – tôm, giảm nước tưới, tái sử dụng rơm rạ được đưa vào hệ thống.
Hơn 5.000 tổ khuyến nông cộng đồng với gần 50.000 thành viên – những cán bộ kỹ thuật gần với người dân nhất – trên cả nước được tổ chức lại. Thay vì tập huấn ngắn hạn, cán bộ sẽ theo dõi nông dân suốt mùa vụ và tổ chức theo nhóm hoặc hợp tác xã. Mô hình được Việt Nam coi là nền tảng để duy trì canh tác lúa phát thải thấp bền vững.
Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn (Như Quỳnh st)



















