Nhiều thuận lợi đan xen thách thức
Ngànhthủy sảngiai đoạn 2021 – 2025 diễn ra trong bối cảnh Luật Thủy sản 2017 và các văn bản hướng dẫn tiếp tục được triển khai, cùng với việc phê duyệt các chương trình, đề án lớn như: Chương trình quốc gia phát triển khai thác thủy sản hiệu quả, bền vững; Chương trình quốc gia phát triển nuôi trồng thủy sản; Chương trình quốc gia bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển; Đề án phát triển ngành chế biến thủy sản…, tạo khuôn khổ pháp lý đồng bộ cho Chiến lược.
Cùng với hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện, Việt Nam đã tận dụng tối đa lợi thế từ 16 Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đang có hiệu lực (EVFTA, CPTPP, RCEP), giúp thủy sản thâm nhập sâu vào các thị trường lớn với thuế suất ưu đãi (đặc biệt là thuế 0% ở EU).

Nhìn chung tốc độ tăng sản lượng giai đoạn 2021 – 2025 vẫn duy trì mức tăng trưởng hàng năm khoảng 2,6%/năm. Ảnh:Hồng Thắm.
Bên cạnh đó, ngành nuôi trồng thủy sản đã làm chủ công nghệ và duy trì được nguồn cung ổn định, đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe, giúp bù đắp sự sụt giảm của thủy sản khai thác.
Đồng thời việc tập trung đẩy mạnh chế biến sâu, tạo ra các sản phẩm giá trị gia tăng đã giúp duy trì mức giá xuất khẩu và tránh cạnh tranh trực tiếp với các nước sản xuất sản phẩm thô.
Tuy nhiên, bức tranh phát triển của ngành thủy sản vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: Giá thức ăn chăn nuôi, xăng dầu và chi phí logistics tăng cao trong suốt giai đoạn, làm giảm đáng kể lợi nhuận của người nuôi và doanh nghiệp.
Cảnh báothẻ vàngcủa Ủy ban châu Âu (EC) đối với thủy sản khai thác vẫn chưa được gỡ bỏ, làm giảm uy tín, tăng chi phí kiểm tra và cản trở xuất khẩu hải sản sang EU và một số thị trường khác. Cá tra và tôm nước lợ phải đối mặt với cạnh tranh về giá gay gắt từ các đối thủ lớn như Ecuador, Ấn Độ.
Ngoài ra, vấn đề chất lượng và nguồn cung con giống (tôm, cá bố mẹ) chưa được giải quyết triệt để, vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu và tiềm ẩn rủi ro dịch bệnh.
Sản lượng khai thác thủy sản giảm dần, nuôi trồng trở thành động lực tăng trưởng
Tổng sản lượng thủy sản Việt Nam từ năm 2021 – 2025 đã duy trì đà tăng trưởng ổn định, vượt mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Nhìn chung tốc độ tăng sản lượng giai đoạn 2021 – 2025 vẫn duy trì mức tăng trưởng hàng năm khoảng 2,6%/năm.

Đồ họa:Hồng Thắm/Số liệu Cục Thống kê.
Trong đó, sản lượng khai thác thủy sản giảm 0,9%/năm, duy trì ở mức 3,8 – 3,9 triệu tấn, mặc dù chưa đáp ứng được mục tiêu của Chiến lược (dự kiến giảm 5 – 6%/năm để đạt mục tiêu 2,8 triệu tấn vào năm 2030) nhưng cũng cho thấy nỗ lực của ngành trong việc kiểm soát cường lực khai thác để bảo vệ nguồn lợi, đồng thời đối phó với áp lực thẻ vàng IUU của EC.
Nuôi trồngthủy sản có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, từ 4,89 triệu tấn năm 2021 dự kiến 6,11 triệu tấn năm 2025, đạt tốc độ tăng 5,2%/năm. Sản lượng nuôi trồng thủy sản chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, chiếm 60,2% tổng sản lượng thủy sản năm 2024 và khoảng 61% tổng sản lượng vào năm 2025, khẳng định vai trò là động lực chính của ngành.
Tóm lại, cơ cấu sản xuất thủy sản đã chuyển dịch rõ rệt theo đúng định hướng của Chiến lược: “Giảm khai thác, tăng nuôi trồng”.
Đột phá kim ngạch xuất khẩu
Song song với chuyển dịch sản xuất, bức tranh xuất khẩu thủy sản giai đoạn 2020 – 2025 phản ánh rõ những thăng trầm của thị trường quốc tế.
Từ mức 8,4 tỷ USD năm 2020, kim ngạch xuất khẩu tăng lên 8,89 tỷ USD năm 2021 và đạt đỉnh 10,9 tỷ USD năm 2022 nhờ nhu cầu thế giới phục hồi mạnh sau đại dịch. Tuy nhiên, năm 2023 ghi nhận sự sụt giảm do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, lạm phát cao và tồn kho lớn tại các thị trường nhập khẩu.

Đồ họa:Hồng Thắm.
Nhưng sang năm 2024, xuất khẩu thủy sản đã phục hồi rõ nét, đạt 10,04 tỷ USD và năm 2025 tiếp tục đạt 11,3 tỷ USD – một cột mốc mới cho thấy khả năng thích ứng và phục hồi khá tốt của ngành.
Xét theo thị trường, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và Liên minh châu Âu vẫn là các thị trường chủ lực, song kim ngạch có sự biến động qua từng năm. Hoa Kỳ và Trung Quốc ghi nhận mức tăng mạnh trở lại trong năm 2024, phản ánh nhu cầu cải thiện và sự linh hoạt trong điều chỉnh sản phẩm, thị trường. Trong khi đó, EU và Nhật Bản tăng chậm hơn, cho thấy áp lực từ tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu dùng bền vững và cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Bức tranh xuất khẩu thủy sản giai đoạn 2021 – 2025 phản ánh xu hướng phục hồi tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng, đa dạng hóa thị trường và phát triển bền vững cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong giai đoạn tới.
Mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển xanh
Những kết quả đạt được trong giai đoạn 2021 – 2025 đã tạo nền tảng quan trọng để ngành thủy sản bước sang giai đoạn 2026 – 2030 với yêu cầu tăng tốc và bứt phá.
Ông Phạm Quang Toản, Phó Cục trưởngCục Thủy sản và Kiểm ngư(Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, 2026 là năm đầu tiên của giai đoạn 2026 – 2030, giai đoạn tăng tốc, bứt phá nhằm đạt mục tiêu phát triển thủy sản bền vững, ngành thủy sản tiếp tục triển khai đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương thực hiện các quy định của Luật Thủy sản 2017, các nhiệm vụ, giải pháp Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Tiếp tục thực hiện chủ trương Chiến lược phát triển thủy sản đề ra là giảm khai thác và tăng nuôi trồng thủy sản; đồng thời triển khai đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương đối với các chương trình, đề án, kế hoạch phát triển thủy sản thực hiện Chiến lược đã được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt.

Xuất khẩu thủy sản năm 2025 đạt 11,3 tỷ USD – một cột mốc mới cho thấy khả năng thích ứng và phục hồi khá tốt của ngành. Ảnh:Hồng Thắm.
Phát triển kinh tế thủy sản theo hướng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm thủy sản. Tiếp tục thực hiện “Chuyển đổi từ tư duy sản xuất thủy sản sang tư duy kinh tế thủy sản”, “Chuyển từ tăng trưởng đơn giá trị sang tăng trưởng tích hợp đa giá trị”.
Tại Lễ tổng kết xuất khẩu thủy sản năm 2025 vừa diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) nhận định, năm 2026 ngành thủy sản sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức và rào cản thị trường như: Chính sách thuế đối ứng, thuế chống bán phá giá tôm, quy định Đạo luật Bảo vệ động vật có vú biển (MMPA) từ Hoa Kỳ và thẻ vàng IUU của EU cùng sự gia tăng cạnh tranh từ các nước xuất khẩu khác…
VASEP nhấn mạnh ưu tiên đồng hành cùng doanh nghiệp theo ba hướng lớn: Mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển xanh – minh bạch – có trách nhiệm, nâng chuẩn truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số; đồng thời phối hợp với Chính phủ và các địa phương trong các nỗ lực phát triển bền vững, sinh kế và các chương trình hỗ trợ cộng đồng, hướng tới một ngành thủy sản Việt Nam chuyên nghiệp hơn, hiệu quả hơn và có sức chống chịu tốt hơn trước biến động thị trường.
Nguồn tin: nongnghiepmoitruong.vn (Nguyễn Nhung st)



















