22:22:31 06/02/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Tạo thế chủ động trên thị trường nông sản toàn cầu

Những năm gần đây, xuất khẩu nông-lâm-thủy sản của Việt Nam liên tục tăng, kim ngạch năm 2025 lần đầu vượt 70 tỷ USD. Tuy nhiên, tăng trưởng chủ yếu nhờ diễn biến thuận lợi của giá nông sản toàn cầu, trong khi khả năng chi phối thị trường của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế.

Tạo thế chủ động trên thị trường nông sản toàn cầu
Thu hoạch lúa trên cánh đồng lớn tại tỉnh An Giang. (Ảnh: ANH MINH)

Trước nguy cơ tăng trưởng suy giảm khi chu kỳ giá đảo chiều,ngành nông nghiệpcần đổi mới cách tham gia thị trường theo hướng chủ động hơn.

Từ xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn xuất khẩu, tổ chức sản xuất bài bản đến hình thành thương hiệu cho từng ngành hàng, việc tạo thế chủ động là điều kiện quan trọng để nông nghiệp giảm mức độ phụ thuộc vào biến động giá thế giới, hướng tới sự bền vững thực chất.

Biến động giá chi phối tăng trưởng

Theo Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) Đỗ Hà Nam, năm 2025 Việt Nam xuất khẩu hơn 8 triệu tấn gạo, kim ngạch khoảng 4,1 tỷ USD, giảm 10,8% về khối lượng và 27,6% về giá trị so với năm 2024. Mức giảm kim ngạch sâu hơn sản lượng cho thấy giá xuất khẩu là yếu tố chính kéo lùi tăng trưởng trong bối cảnh nhu cầu và giá gạo thế giới giảm mạnh.

Cuối năm 2025, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam xuống dưới 400 USD/tấn, bình quân cả năm chỉ đạt gần 509 USD/tấn. Trong khi đó, năm 2024, xuất khẩu gạo đạt kỷ lục 9,18 triệu tấn, kim ngạch 5,75 tỷ USD, giá bình quân 627 USD/tấn. Như vậy, dù sản lượng năm 2025 chỉ giảm hơn 1 triệu tấn so với năm 2024, giá trị xuất khẩu đã giảm tới 1,65 tỷ USD, phản ánh tác động rất lớn của biến động giá gạo thế giới đối với tăng trưởng xuất khẩu gạo Việt Nam.

Trái ngược với lúa gạo, xuất khẩu cà-phê củaViệt Namnăm 2025 tăng trưởng mạnh, lập kỷ lục với 1,59 triệu tấn, kim ngạch 8,9 tỷ USD, tăng 18,3% về lượng và 58,8% về trị giá so với năm 2024. Kết quả này đến từ nhu cầu tiêu thụ toàn cầu ổn định, chính sách đa dạng hóa nguồn cung của các thị trường nhập khẩu và đặc biệt là yếu tố giá, khi giá xuất khẩu bình quân năm 2025 đạt 5.661 USD/ tấn, tăng 39,8%.

Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), tháng 1/2026, giá cà-phê thế giới tiếp tục tăng do tác động đồng thời của cung-cầu và chính sách tiền tệ; nguồn cung vẫn thắt chặt khi tồn kho đạt chuẩn tại các sàn giao dịch quốc tế duy trì ở mức thấp, trong khi các nước sản xuất lớn như Việt Nam và Brazil bán ra thận trọng. Tuy nhiên, về dài hạn, giá cao có thể kích thích mở rộng sản xuất tại các quốc gia cung ứng lớn như Brazil, Colombia, làm gia tăng nguồn cung; đồng thời tồn kho đạt chuẩn có khả năng phục hồi, tạo áp lực điều chỉnh giá.

Trong bối cảnh xuất khẩu cà-phê Việt Nam vẫn chủ yếu là cà-phê nhân, tăng trưởng kim ngạch phụ thuộc lớn vào giá, đây là những rủi ro cần được lường trước.

Làm chủ chuỗi cung ứng và thị trường

Ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An cho rằng, biến động giá là yếu tố không thể loại bỏ trongthương mại gạo toàn cầu, vì vậy doanh nghiệp cần giải pháp giảm mức độ tác động. Nếu chỉ xuất khẩu gạo hàng hóa thông thường, doanh nghiệp gần như hoàn toàn phụ thuộc vào giá thế giới; muốn ổn định buộc phải chuyển sang các phân khúc gạo chất lượng cao, gạo đặc sản, gạo có tiêu chuẩn và thị trường rõ ràng.

Theo ông Bình, Đề án phát triển bền vững một triệu hécta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh ở Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là mục tiêu môi trường mà còn là công cụ kinh tế quan trọng, giúp ngành lúa gạo nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Khi doanh nghiệp tham gia sâu vào Đề án, kiểm soát được vùng nguyên liệu theo tiêu chuẩn phát thải thấp và truy xuất nguồn gốc minh bạch, gạo không còn là hàng hóa thuần túy mà trở thành sản phẩm có giá trị gia tăng và thị trường riêng, qua đó từng bước nâng cao năng lực đàm phán giá và giảm rủi ro từ các cú sốc thị trường.

Từ góc nhìn ngành hồ tiêu, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam Hoàng Thị Liên cho biết, năm 2025 Việt Nam xuất khẩu hơn 247.000 tấn hồ tiêu, trị giá hơn 1,6 tỷ USD, giảm 1,5% về lượng nhưng tăng 26,3% về trị giá so với năm 2024 nhờ giá xuất khẩu tăng. Tuy nhiên, lợi thế giá sẽ bị hạn chế nếu tình trạng thiếu hụt nguyên liệu gia tăng, khiến nhiều doanh nghiệp không thể mở rộng xuất khẩu. Thực tế, những năm gần đây nhập khẩu hồ tiêu liên tục tăng; riêng năm 2025 đạt 266,2 triệu USD, tăng 51,1% so với năm 2024.

Trong bối cảnh nguồn cung trong nước eo hẹp, giá tăng không còn đồng nghĩa với kim ngạch tăng tương ứng, nhất là khi doanh nghiệp phải đối mặt với các rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu lớn. Tương tự, ngành điều dù đạt kim ngạch kỷ lục 5,3 tỷ USD năm 2025 cũng đứng trước nguy cơ không hưởng trọn lợi ích từ giá xuất khẩu tăng do thiếu nguyên liệu nghiêm trọng. Vì vậy, cần giải quyết bài toán nguyên liệu và tái cấu trúc chuỗi cung ứng để tạo động lực tăng trưởng mới cho các ngành hàng.

Trong giai đoạn mới, dư địa tăng trưởng bền vững của xuất khẩu nông-lâm-thủy sản không chỉ nằm ở gia tăng kim ngạch theo biến động giá, mà quan trọng hơn là nâng cao giá trị nội tại của sản phẩm. Vì vậy, các ngành hàng cần sớm ổn định vùng nguyên liệu thông qua liên kết chuỗi, khắc phục tình trạng giá tăng nhưng thiếu nguồn hàng đạt chuẩn xuất khẩu; đồng thời đẩy mạnh chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc để gia tăng giá trị, mở rộng tiếp cận thị trường cao cấp và nâng cao năng lực đàm phán giá trong bối cảnh thị trường thế giới còn nhiều biến động.

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

320/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

319/QĐ-TTg

Phê duyệt Đề án về chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử đến năm 2025

263/QĐ-TTg

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025

18/2022/QĐ-TTg

Ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại0
  • Tổng lượt truy cập17
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây