





Ý tưởng “Mỗi xã một sản phẩm” (One Commune One Product-OCOP) được khởi động tại Quảng Ninh từ năm 2013, sau đó được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhân rộng trong Quyết định 490/QĐ-TTg ngày 7/5/2018.
Chương trình hướng tới phát triển sản phẩm đặc trưng và có thế mạnh của từng địa phương, gắn với giá trị văn hóa, tài nguyên bản địa và tri thức truyền thống, qua đó nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn.
Theo PGS.TS Trần Văn Ơn, nguyên Trưởng Bộ môn Thực vật, Trường ĐH Dược Hà Nội, Cố vấn Quốc gia Chương trình Quốc gia Mỗi xã Một sản phẩm (OCOP), người khởi xướng và là tư vấn trưởng từ những ngày đầu xây dựng mô hình OCOP Quảng Ninh, bản chất của OCOP không chỉ nằm ở việc tạo ra sản phẩm để bán, mà là chuyển đổi tư duy định hướng sản xuất sang định hướng thị trường dựa trên tài nguyên và tri thức địa phương. Mỗi sản phẩm OCOP sẽ trở thành “cánh cửa” kết nối giữa nông dân, khoa học và thị trường.
Hiện nay, OCOP đã phát triển qua hai giai đoạn:
– Giai đoạn 1 có mục tiêu chính là “chạy trơn chu” chương trình gồm thiết lập cơ cấu tổ chức, phân công trách nhiệm của các ngành từ trung ương đến tỉnh, huyện, xã, triển khai “chu trình OCOP thường niên”, từ đó hướng dẫn và hỗ trợ phát triển, chuẩn hóa sản phẩm, đánh giá và phân hạng sản phẩm và hỗ trợ xúc tiến thương mại các sản phẩm đạt 3 sao trở lên. Việc triển khai phải minh bạch, khoa học, tránh hình thức hoặc chạy theo thành tích.
– Giai đoạn 2 nhấn mạnh vào việc nâng cấp sản phẩm và phát triển liên tục, không chỉ dừng lại ở việc tạo ra một sản phẩm mà mỗi xã phải có ít nhất một sản phẩm OCOP đạt chuẩn, đồng thời phát triển nhiều sản phẩm khác từ nguồn lực địa phương thông qua duy trì Chu trình OCOP thường niên.
Đến nay, sau 10 năm thực hiện, tất cả các tỉnh đều triển khai chương trình OCOP, cả nước đã có hơn 10.300 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên. Khoảng 15% trong số đó là sản phẩm từthảo dược. Nhiều sản phẩm từ vùng sâu, vùng xa đã vươn lên thành thương hiệu mạnh nhưmật ongbạc hà Hà Giang, trà giảo cổ lam Hòa Bình, tinh dầu quế Yên Bái, nghệ vàng Bắc Kạn, Actiso Sa Pa,…
Ngoài ra, nhiều địa phương đi tiên phong như Quảng Ninh, Bắc Kạn, Hà Giang đã xây dựng các dự án gắn OCOP vớidu lịchcộng đồng, thực phẩm và dược liệu. Đây là minh chứng rõ ràng cho việc chương trình không chỉ là chính sách kinh tế mà còn góp phần nâng cao sức khỏe và đời sống cộng đồng nhờ các sản phẩm an toàn, chất lượng.
Mặc dù OCOP đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng thực trạng triển khai vẫn còn nhiều khó khăn. PGS.TS. Trần Văn Ơn cho rằng, vấn đề đầu tiên là nhận thức và tư tưởng của lãnh đạo địa phương chưa đồng đều, nhiều nơi chưa thực sự hiểu bản chất và mục tiêu dài hạn của chương trình. Thứ hai, nguồn lực của người dân vàdoanh nghiệpcòn hạn chế, việc tiếp cận vốn, công nghệ và đào tạo chưa đầy đủ, năng lực thương mại yếu khiến một số sản phẩm phát triển chưa xứng với tiềm năng và không phát triển bền vững.
Ngoài ra, nhiều địa phương hiện nay chưa triển khai đầy đủ chu trình OCOP thường niên, chỉ tập trung vào việc lựa chon và tổ chức thi sản phẩm hoặc chạy theo các chương trình thương hiệu mà thiếu hỗ trợ thực chất cho nông dân vàhợp tác xã.
Điều này dẫn đến các sản phẩm OCOP phát triển theo hướng tự phát, thiếu nghiên cứu nền tảng và chiến lược dài hạn về vùng nguyên liệu, quy trình chế biến, hay bảo tồn nguồn gen.
Trong khi đó, các tiêu chí đánh giá sản phẩm OCOP theo Quyết định 1048/QĐ-TTg năm 2019 đã quy định rất rõ về tính độc đáo, tiêu chuẩn an toàn, khả năng truy xuất và thị trường – đòi hỏi năng lực sản xuất vượt xa mô hình hộ nhỏ truyền thống.
Do OCOP tập trung vào phát triển các sản vật địa phương, nghĩa là phần lớn trong số chúng có quy mô nhỏ, giới hạn ở một đến vài xã, việc xây dựng các mô hình liên kết trong OCOP còn lạ lẫm và thiếu các mô hình để học tập, bao gồm các mô hình liên kết ngang như thành lập HTX đúng nghĩa, liên kết dọc như liên kết giữa hộ gia đình trồng trọt, các doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào vàcơ sở chế biến, giữa cơ sở chế biến và các đơn vị thương mại như cửa hàng chuyên doanh, trung tâm OCOP, thậm chí là các siêu thị.
Thêm vào đó, hệ thống kiểm nghiệm chất lượng và chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm còn phân tán, khiến nhiều sản phẩm dược liệu, thực phẩm chức năng gặp khó khi muốn mở rộng quy mô hoặc xuất khẩu. Ở khía cạnh truyền thông và thương hiệu, không ít sản phẩm OCOP vẫn dừng lại ở mức “đặc sản địa phương”, chưa được định vị như sản phẩm chăm sóc sức khỏe có tiêu chuẩn rõ ràng.
Để khắc phục những hạn chế và phát triển OCOP bền vững, PGS.TS. Trần Văn Ơn đề xuất triển khai theo 2 hướng song song:
Thứ nhất: Nâng cấp sản phẩm hiện có và tạo ra sản phẩm mới
– Mỗi xã phải có tối thiểu một sản phẩm đạt chuẩn OCOP nhưng không dừng lại ở 1 sản phẩm. Các sản phẩm không chỉ là vật phẩm thô mà phải là sản phẩm chế biến hoàn chỉnh, an toàn, có giá trị thương mại.
– Phát triển nhiều sản phẩm khác từ nguồn lực địa phương, dưới dạng thực phẩm,đồ uống, thảo dược và liên kết với du lịch cộng đồng từ đó để tạohệ sinh tháisản phẩm OCOP.
– Duy trì chu trình triển khai hàng năm, đảm bảo giám sát, đánh giá và hỗ trợ người dân, doanh nghiệp một cách bài bản.
Thứ 2: Áp dụngcông nghệ 4.0và chuyển đổi số
– Áp dụng AI, cảm biến, quản trị theo thời gian thực từ khâu trồng đến cơ sở chế biến, nâng cao hiệu quả quản lý và sản xuất.
– Ứng dụng công nghệ sinh học như chiết suất với sự hỗ trợ của enzyme, nuôi cấy mô, cải tiến giống để nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh.
– Xây dựng trung tâm sáng tạo tại xã, giúp định hướng nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới phù hợp với đặc trưng vùng miền.
PGS.TS. Trần Văn Ơn nhấn mạnh rằng, việc áp dụng công nghệ không chỉ là nâng cấp sản phẩm mà còn giải quyết bài toán vốn, nhân lực và khả năng cạnh tranh của các chủ thể OCOP, từ đó tạo ra thu nhập bền vững và bảo đảmsức khỏe cộng đồngthông qua sản phẩm an toàn.
Dựa trên thực trạng và giải pháp đề xuất, có thể đưa ra 5 khuyến nghị chính sách:
Nguồn tin: suckhoedoisong.vn (Cẩm Vân st)
Về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiều quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 -2030 tỉnh Nghệ An
Thông tư Hướng dẫn thực hiện một số nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Quyết định ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm Mỗi xã một sản phẩm
Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, xã đạt nông thôn mới hiện đại và tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030
Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỉ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030
Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026
Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030
Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030
Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030
NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

Giá cau tươi ở Đắk Lắk “tuột dốc” chỉ còn 40.000-60.000 đồng/kg, lò sấy, đại lý thu mua có động thái lạ
Dự báo ‘nóng’ về cung cầu gạo 2024/25: Sản lượng và nhu cầu đều tăng, cơ hội nào cho gạo Việt?
Quảng Ngãi có 53 loài động vật quý hiếm, gồm 14 loài chim hoang dã được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam
Đàn động vật hoang dã có tên trong sách Đỏ hay ngồi trên cây nhìn xuống ở khu rừng nổi tiếng Gia Lai
Xã Nghi Diên (huyện Nghi Lộc) kỷ niệm 70 năm thành lập và đón Bằng công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao
Nuôi hơn 2.000 chim trĩ, nông dân Nghệ An thu trăm triệu mỗi năm
Bán lượng gạo khổng lồ, Việt Nam cũng là nhà nhập khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới, mua của ai nhiều nhất?
Sự thật loại trứng xanh lè xanh lét siêu độc, lạ, giá gần 1 triệu/quả, được rao bán rầm rộ khắp các chợ
Nền độc đáo của quần thể Đền – Chùa Gám 