22:34:56 23/06/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Phát triển sản phẩm OCOP gắn với vùng nguyên liệu: Hướng đi chiến lược, bền vững nâng tầm giá trị nông sản Nghệ An

Sau hơn 7 năm triển khai Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP), Nghệ An đã khẳng định vị thế là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về phát triển sản phẩm OCOP. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường ngày càng yêu cầu cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tính bền vững, việc gia tăng số lượng sản phẩm không còn là mục tiêu duy nhất. Thay vào đó, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và phát triển sản phẩm theo chuỗi giá trị đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Trong quá trình đó, phát triển vùng nguyên liệu đặc trưng được xác định là yếu tố nền tảng, quyết định sự thành công và tính bền vững của sản phẩm OCOP.

Từ lợi thế tự nhiên đến tiềm năng phát triển sản phẩm OCOP

Là tỉnh có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước với hơn 16.490 km², Nghệ An sở hữu hệ sinh thái đa dạng hiếm có, trải dài từ vùng biển, đồng bằng, trung du đến miền núi cao. Sự đa dạng về địa hình, khí hậu và thổ nhưỡng đã hình thành nhiều vùng sản xuất nông nghiệp đặc thù cùng các sản vật nổi tiếng mang đậm dấu ấn địa phương.

Miền Tây Nghệ An có lợi thế phát triển các loại cây dược liệu, chè, cây ăn quả, mật ong, lâm sản ngoài gỗ; vùng đồng bằng nổi bật với lúa gạo chất lượng cao, sen, cam, lạc, rau màu; trong khi khu vực ven biển có thế mạnh về thủy sản, nước mắm và các sản phẩm chế biến từ hải sản. Đây chính là nguồn tài nguyên bản địa quý giá để phát triển các sản phẩm OCOP mang bản sắc riêng, có khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Phát triển sản phẩm OCOP gắn với vùng nguyên liệu: Hướng đi chiến lược, bền vững nâng tầm giá trị nông sản Nghệ An

Vùng nguyên liệu Sen của HTX Nông nghiệp Sen Quê Bác

Kết quả thực hiện Chương trình OCOP cho thấy tiềm năng đó đang từng bước được khai thác hiệu quả. Đến nay, toàn tỉnh Nghệ An đã có gần 588 sản phẩm OCOP được công nhận đạt từ 3 sao trở lên, các sản phẩm OCOP của tỉnh ngày càng đa dạng, từ thực phẩm, đồ uống, dược liệu đến sản phẩm lưu niệm, thủ công mỹ nghệ và dịch vụ du lịch cộng đồng.

Tuy nhiên, đằng sau những con số ấn tượng ấy vẫn còn nhiều thách thức đặt ra. Không ít sản phẩm OCOP hiện nay mới dừng ở quy mô nhỏ lẻ, chưa hình thành được vùng nguyên liệu ổn định; nhiều cơ sở sản xuất còn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu thu gom từ nhiều địa phương khác nhau, dẫn đến khó kiểm soát chất lượng và hạn chế khả năng mở rộng quy mô sản xuất.

Vùng nguyên liệu – “gốc rễ” tạo nên giá trị sản phẩm OCOP

Thực tiễn phát triển OCOP trên cả nước cho thấy, những sản phẩm thành công và có sức sống lâu dài đều gắn liền với vùng nguyên liệu đặc trưng.

Vùng nguyên liệu không chỉ là nơi cung cấp đầu vào cho sản xuất mà còn là yếu tố tạo nên sự khác biệt, bản sắc và giá trị thương hiệu của sản phẩm. Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc xuất xứ, tính an toàn và câu chuyện văn hóa đằng sau sản phẩm, vai trò của vùng nguyên liệu càng trở nên quan trọng.

Đối với Nghệ An, nhiều sản phẩm OCOP nổi bật hiện nay đều được xây dựng từ các vùng nguyên liệu đặc sản như sen Nam Đàn, cam Vinh, chè Thanh Chương, gừng Kỳ Sơn, dược liệu Pù Mát, mật ong miền Tây, nước mắm Cửa Lò hay các loại dược liệu vùng cao.

Phát triển sản phẩm OCOP gắn với vùng nguyên liệu: Hướng đi chiến lược, bền vững nâng tầm giá trị nông sản Nghệ An

Vùng nguyên liệu sản phẩm từ chè

Đơn cử như vùng sen Nam Đàn, từ một loại cây trồng truyền thống, những năm gần đây đã trở thành nguồn nguyên liệu cho hàng chục sản phẩm OCOP như trà tâm sen, trà lá sen, hạt sen sấy và nhiều sản phẩm quà tặng phục vụ du lịch. Giá trị kinh tế từ cây sen vì thế tăng lên nhiều lần so với hình thức sản xuất truyền thống trước đây. Tương tự, vùng trồng dứa với hàng nghìn héc-ta diện tích sản xuất tập trung tại các xã thuộc huyện Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn cũ không chỉ cung cấp nguyên liệu cho sản phẩm quả tươi mà còn tạo điều kiện phát triển các sản phẩm chế biến sâu như nước ép, mứt dứa.

Những ví dụ trên cho thấy, vùng nguyên liệu chính là “gốc rễ” tạo nên sức sống cho sản phẩm OCOP. Nếu không có vùng nguyên liệu ổn định, sản phẩm khó duy trì chất lượng đồng đều, khó xây dựng thương hiệu và càng khó tham gia vào các thị trường cao cấp.

Những điểm nghẽn trong phát triển vùng nguyên liệu phục vụ OCOP

Mặc dù có nhiều tiềm năng và lợi thế nhưng việc phát triển vùng nguyên liệu phục vụ OCOP ở Nghệ An vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn.

Trước hết là tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún. Phần lớn diện tích sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn do các hộ dân quản lý với quy mô nhỏ. Việc tích tụ đất đai, hình thành các vùng sản xuất tập trung còn gặp nhiều trở ngại.

Thứ hai, mối liên kết giữa người sản xuất nguyên liệu với các chủ thể OCOP chưa thực sự chặt chẽ. Nhiều cơ sở sản xuất vẫn chủ yếu thu mua nguyên liệu theo thời vụ, chưa xây dựng được các hợp đồng liên kết dài hạn với nông dân. Điều này khiến nguồn cung nguyên liệu thiếu ổn định, giá cả biến động và khó kiểm soát chất lượng.

Thứ ba, tỷ lệ vùng nguyên liệu được chứng nhận VietGAP, hữu cơ hoặc áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc còn thấp. Trong khi đó, đây là những điều kiện bắt buộc để sản phẩm tham gia vào hệ thống phân phối hiện đại hoặc hướng tới xuất khẩu.

Một hạn chế khác là công nghiệp chế biến chưa phát triển tương xứng với tiềm năng nguyên liệu. Nhiều sản phẩm nông nghiệp vẫn được tiêu thụ dưới dạng thô hoặc sơ chế, dẫn đến giá trị gia tăng thấp. Không ít vùng nguyên liệu lớn nhưng chưa có doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu, khiến người dân chưa thực sự hưởng lợi từ tiềm năng của địa phương.

Ngoài ra, tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh cũng đang đặt ra nhiều thách thức đối với việc duy trì và phát triển các vùng nguyên liệu bền vững trong thời gian tới.

Phát triển vùng nguyên liệu theo chuỗi giá trị – yêu cầu tất yếu

Trong xu thế phát triển nông nghiệp hiện đại, vùng nguyên liệu không thể tồn tại độc lập mà phải được đặt trong chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ.

Đây cũng là định hướng mà Nghệ An đang tập trung thực hiện trong giai đoạn tới.

Theo đó, các hợp tác xã, doanh nghiệp và chủ thể OCOP sẽ đóng vai trò trung tâm liên kết người dân hình thành các vùng nguyên liệu tập trung. Người dân được hướng dẫn quy trình sản xuất đồng bộ, áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng, được hỗ trợ giống, vật tư và bao tiêu sản phẩm. Ngược lại, doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu ổn định, bảo đảm chất lượng phục vụ sản xuất.

Mô hình liên kết này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn tạo sự gắn kết lợi ích giữa các bên tham gia chuỗi giá trị.

Đặc biệt, khi vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản, việc áp dụng cơ giới hóa, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn sản xuất tiên tiến sẽ thuận lợi hơn rất nhiều. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm OCOP trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

Chế biến sâu – chìa khóa nâng cao giá trị vùng nguyên liệu

Một trong những vấn đề được đặt ra hiện nay là làm thế nào để nâng cao giá trị gia tăng từ các vùng nguyên liệu đặc trưng.

Câu trả lời nằm ở phát triển công nghiệp chế biến sâu.

Thực tế cho thấy, giá trị của nông sản có thể tăng lên gấp nhiều lần khi được chế biến thành các sản phẩm OCOP có chất lượng cao. Một kilôgam sen tươi có giá trị không lớn, nhưng khi chế biến thành trà sen, trà tâm sen hoặc tinh dầu sen, giá trị kinh tế có thể tăng lên nhiều lần. Điều tương tự cũng xảy ra với cam, chè, dược liệu hay thủy sản.

Vì vậy, phát triển vùng nguyên liệu cần đi đôi với thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến, đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm và xây dựng thương hiệu.

Đây cũng là hướng đi giúp các sản phẩm OCOP của Nghệ An thoát khỏi tình trạng cạnh tranh bằng giá, chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng, giá trị văn hóa và câu chuyện sản phẩm.

Hướng tới nền OCOP xanh, bền vững và hiện đại

Bước sang giai đoạn 2026-2030, Nghệ An đặt mục tiêu không chỉ gia tăng số lượng sản phẩm OCOP mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng, giá trị và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

Để đạt được mục tiêu này, việc phát triển vùng nguyên liệu đặc trưng cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm.

Tiếp tục rà soát, quy hoạch các vùng nguyên liệu chủ lực gắn với sản phẩm OCOP thế mạnh của từng địa phương; hỗ trợ xây dựng mã số vùng trồng, vùng nuôi; mở rộng diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý sản xuất.

Song song với đó là thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản, phát triển các chuỗi liên kết bền vững giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp; gắn phát triển vùng nguyên liệu với du lịch nông thôn, kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng xanh.

Có thể khẳng định rằng, phát triển sản phẩm OCOP gắn với vùng nguyên liệu đặc trưng không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài nhằm nâng cao giá trị nông sản, phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng thương hiệu cho nông nghiệp Nghệ An.

Từ những đồi chè xanh mướt ở Thanh Chương, những cánh đồng sen ngát hương ở Nam Đàn, những vườn cam trĩu quả miền Tây đến những làng nghề ven biển giàu truyền thống, mỗi vùng nguyên liệu đều đang chứa đựng những cơ hội lớn để tạo nên các sản phẩm OCOP chất lượng cao. Khi vùng nguyên liệu được tổ chức theo hướng hiện đại, liên kết chặt chẽ với chế biến và thị trường, OCOP Nghệ An sẽ không chỉ là câu chuyện của những đặc sản địa phương mà còn trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn bền vững trong giai đoạn mới.

Nguồn: Đặng Hòa, Chi cục KTHT& PTNT

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

số 2490/QĐ-UBND

Về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiều quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 -2030 tỉnh Nghệ An

Số 23/2026/TT-BNNMT

Thông tư Hướng dẫn thực hiện một số nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

số: 26/2026/QĐ-TTg

Quyết định ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm Mỗi xã một sản phẩm

số: 19/2026/QĐ-TTg

Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, xã đạt nông thôn mới hiện đại và tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

số 16/2026/QĐ-TTg

Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỉ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030

1451/QĐ-UBND

Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

827/QĐ-BNNMT

Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại74
  • Tổng lượt truy cập224
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây