
Hiện, toàn tỉnh có 914 sản phẩm OCOP của 522 chủ thể đạt hạng 3 – 4 sao, phản ánh quy mô chuẩn hóa ngày càng lớn, nhưng giá trị bền vững chỉ được giữ khi OCOP đi cùng SHTT.
Khi nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý hay tên gọi tập thể được bảo hộ, sản phẩm OCOP không chỉ “đạt sao” mà còn được bảo vệ danh tiếng, nâng cao khả năng nhận diện và mở rộng thị trường một cách dài hạn.
Vượt xếp hạng, giữ giá trị
Những con số về OCOP ở Lâm Đồng không chỉ cho thấy sự phong phú của sản phẩm địa phương, mà còn phản ánh một chuyển dịch quan trọng trong tư duy của các HTX: từ làm ra hàng hóa để bán sang xây dựng sản phẩm có tên gọi, có nhận diện và có khả năng duy trì giá trị lâu dài trên thị trường.
Trên thực tế, OCOP không đặt ra yêu cầu trực tiếp về SHTT, nhưng các tiêu chí về chất lượng, tiêu chuẩn sản xuất, truy xuất nguồn gốc và câu chuyện sản phẩm đã buộc HTX phải từng bước hình thành những nền tảng cốt lõi của SHTT. Muốn “đứng sao” bền vững, sản phẩm không thể thiếu nhãn hiệu rõ ràng và dấu ấn riêng biệt.
Một sản phẩm OCOP chỉ thực sự được thị trường nhớ đến khi người tiêu dùng có thể gọi tên, phân biệt và tin tưởng. Đây cũng là điểm khác biệt lớn so với giai đoạn trước, khi nhiều nông sản địa phương dù chất lượng tốt nhưng thiếu nhận diện, dễ bị hòa lẫn và phụ thuộc hoàn toàn vào giá cả.
Điển hình cho việc xây dựng thương hiệu sản phẩm chỉn chu, bài bản để tham gia chuỗi giá trị là HTX Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Vườn Nhà Đà Lạt (phường Xuân Trường) với sản phẩm bí sợi mì 3 sao OCOP.

Từ một loại rau củ được nhập hạt giống về từ Nhật Bản, HTX đã tự chuẩn hoá quy trình canh tác, bước đầu đạt năng suất khoảng 3 tấn/1000m2. Sau đó, phát triển bao bì tem nhãn mang theo câu chuyện riêng của cao nguyên Đà Lạt, nhờ đó đã đạt điều kiện phân phối trên 200 cửa hàng trong nước.
Phát triển từ mô hình ban đầu, HTX liên kết với nông dân xã Xuân Thọ mở rộng diện tích trồng bí sợi mì lên khoảng 1ha, quy mô tăng gấp 10 lần sau 5 năm. Dù nguồn cung trên thị trường ngày càng nhiều, giá thành chung giảm khoảng 30% so với trước, sản phẩm của HTX vẫn giữ được lợi thế nhờ quy trình hoàn chỉnh và chất lượng ổn định.
Không chỉ với bí sợi mì, các sản phẩm OCOP 3 sao khác như cà rốt cọng tím truyền thống hay ớt sừng Palermo của HTX cũng cho thấy vai trò của việc chuẩn hóa và nhận diện.
Với 5ha cà rốt chuyên canh ngoài trời, HTX đạt năng suất trung bình 2–4 tấn/1.000 m2 mỗi vụ, có thời điểm cung ứng cho thị trường trong nước khoảng 800kg mỗi ngày; riêng ớt Palermo xuất ra thị trường gần 1 tấn/ngày.
Những con số này không chỉ nói về sản lượng, mà phản ánh quá trình tích lũy giá trị “vô hình” của HTX. Khi OCOP tạo khuôn khổ chuẩn hóa, SHTT giúp giữ gìn và khuếch đại giá trị ấy, để sản phẩm địa phương không chỉ bán được hôm nay mà còn có chỗ đứng dài lâu trên thị trường.
Nông sản có “hộ chiếu”
Với nhóm sản phẩm cà phê Việt Nam nổi tiếng với bạn bè quốc tế, năm 2024, chỉ dẫn địa lý “Lâm Đồng” cho cà phê Arabica và Robusta được Cục Sở hữu trí tuệ chính thức bảo hộ, mở ra nền tảng pháp lý quan trọng để các vùng nguyên liệu và HTX xây dựng thương hiệu tập thể.
Từ đây, cà phê Lâm Đồng không chỉ được gọi tên theo địa danh, mà có “giấy thông hành” để bước vào các thị trường đòi hỏi cao về xuất xứ và chất lượng.
Khi chỉ dẫn địa lý đi vào thực tiễn, nhiều HTX đã chủ động tái cấu trúc sản phẩm. HTX Nông nghiệp Arabica Langbiang (xã Lạc Dương) tổ chức lại vùng trồng theo độ cao, giống và quy trình sơ chế chặt chẽ, đưa thông tin chỉ dẫn địa lý lên bao bì. Nhờ đó, sản phẩm dễ nhận diện hơn và từng bước tiếp cận các kênh phân phối cao cấp, thay vì chỉ bán nguyên liệu thô.
Tại Cầu Đất (phường Xuân Trường), các HTX cà phê rang xay cũng gắn chặt nhãn hiệu sản phẩm với vùng trồng và chỉ dẫn địa lý. Việc xuất hiện ngày càng nhiều tại các chuỗi bán lẻ cao cấp và sự kiện trưng bày OCOP cho thấy, khi sản phẩm đã được chuẩn hóa, câu chuyện xuất xứ trở thành lợi thế cạnh tranh rõ rệt.

Đặc biệt, Arabica Cầu Đất được tập đoàn Starbucks công nhận là một trong 7 loại cà phê ngon nhất thế giới, sánh cùng các vùng trồng danh tiếng như Brazil, Colombia hay Kenya. Sự ghi nhận này cho thấy giá trị của việc bảo vệ và khai thác đúng tài sản trí tuệ gắn với vùng nguyên liệu.
Ở xã Di Linh, “trái tim cà phê” của Lâm Đồng, các HTX như HTX Cà phê Hòa Ninh, HTX Nông nghiệp Tân Nghĩa đã phát triển vùng nguyên liệu hàng trăm héc ta theo tiêu chuẩn 4C, UTZ, VietGAP, đầu tư hệ thống sơ chế, bảo quản và truy xuất nguồn gốc. Nhờ liên kết với doanh nghiệp chế biến, giá bán cà phê của HTX cao hơn 10 – 15% so với sản xuất thông thường.
Từ chỗ bán cà phê theo cách truyền thống, nhiều hộ dân nay được ký hợp đồng ổn định, tham gia chuỗi sản xuất có chứng nhận và được in tên vùng trên sản phẩm.
Khi chất lượng được chuẩn hóa và danh xưng được bảo hộ, người trồng cà phê không chỉ yên tâm về đầu ra mà còn thêm tự hào về giá trị hạt cà phê mình làm ra.
Hơn 70% diện tích cà phê Di Linh đã chuyển sang canh tác bền vững, hướng tới xây dựng chỉ dẫn địa lý “Cà phê Di Linh – Lâm Đồng”. Các sản phẩm OCOP cà phê khi gắn với chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể đang cho thấy một con đường phát triển bền vững, nơi chuẩn hóa sản xuất và SHTT cùng song hành để nâng tầm nông sản địa phương.
Để nông sản không chỉ bán một mùa
Câu chuyện tại Lâm Đồng cho thấy, OCOP chỉ thực sự phát huy giá trị khi song hành cùng bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ. Mỗi sản phẩm OCOP không chỉ là hàng hóa, mà còn mang theo tên gọi, câu chuyện và hình ảnh của địa phương.
Hiện, khoảng 62% sản phẩm OCOP 4–5 sao trên cả nước đã được bảo hộ dưới các hình thức SHTT khác nhau, cho thấy sản xuất ngày càng gắn chặt với pháp lý và thương hiệu.
Việc xây dựng nhãn hiệu cho sản phẩm OCOP vì thế giống như trao “hộ chiếu” cho nông sản địa phương bước ra thị trường rộng lớn hơn. Nhờ được hỗ trợ đăng ký và quản lý quyền SHTT, nhiều sản phẩm OCOP của Lâm Đồng đã tạo dựng được chỗ đứng bền vững.
Thực tế cho thấy, khi người nông dân hiểu rằng mỗi nhật ký sản xuất hay mỗi quy trình canh tác đều có giá trị “vô hình”, động lực sáng tạo và tuân thủ tiêu chuẩn được nâng lên rõ rệt.
Theo ông Mai Văn Dũng, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu, đào tạo và hỗ trợ tư vấn, Cục SHTT, nhiều HTX còn lúng túng do thiếu nhân sự chuyên trách về lĩnh vực này.
Tuy nhiên, trong môi trường cạnh tranh hiện nay, những biện pháp cần được thực hiện để bảo vệ chất xám của chính mình là điều không thể thiếu.
Một thực tế khác cần lưu ý là hệ sinh thái hỗ trợ HTX về SHTT vẫn chưa hoàn chỉnh, khiến mối liên kết giữa HTX, cơ quan quản lý và đơn vị tư vấn còn rời rạc. Đây chính là khoảng trống cần được lấp đầy để OCOP và SHTT tiếp tục song hành, tạo giá trị bền vững cho kinh tế nông thôn.
Nguồn: vnbusiness.vn (Minh Hiền st)



















