Đã cấp 255 mã số vùng trồng xuất khẩu
Theo Thống kê tỉnhGia Lai, hiện tỉnh có diện tích cây ăn quả ước đạt khoảng gần 39.249ha, tăng 9,4% (hơn 3.375ha) so cùng kỳ năm trước. Một số cây ăn quả chủ lực của Gia Lai là chuối, sầu riêng, chanh leo, bơ… Sản lượng thu hoạch cây ăn quả của Gia Lai trong năm 2025 khoảng 456.000 tấn, tăng 12,9% (hơn 52.000 tấn) so cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích và sản lượng cây sầu riêng đang là điểm sáng trong lĩnh vực cây ăn quả của Gia Lai với diện tích ước đạt gần 9.029ha, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm trước, sản lượngsầu riêngtrong năm 2025 ước đạt 52.300 tấn, tăng 25,3% (tăng 10.500 tấn) so với cùng kỳ.
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu của Gia Lai đạt khoảng 3,44 tỷ USD, vượt gần 19,7% so với kế hoạch năm và tăng 14,7% so với năm 2024. Trong đó, xuất khẩu nông sản chiếm tỷ trọng lớn với nhiều mặt hàng chủ lực như cà phê, chuối, chanh dây, mì, gạo…, khẳng định vai trò của nông nghiệp trong phát triển kinh tế của tỉnh.
Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu, những năm qua, ngành chức năng song hành với doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ dân ở tỉnh Gia Lai đẩy mạnh xây dựng mã số vùng trồng cho các nông sản chủ lực.

Một vườn cà phê ở Gia Lai đã được cấp mã số vùng trồng xuất khẩu. Ảnh:N.T.
Theo bà Nguyễn Thị Tố Trân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai, lũy kế đến nay, tỉnh đã được cấp 255mã số vùng trồngxuất khẩu với diện tích 10.246,51ha và 40 mã số cơ sở đóng gói với tổng công suất 1.650 – 1.800 tấn quả tươi/ngày, chủ yếu là trái cây xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, Hoa Kỳ…
Về mã số vùng trồng lĩnh vực trồng trọt (nội địa), lũy kế đến nay đã cấp 55 mã số với diện tích 513,59ha, chủ yếu là rau các loại, lúa và cây cà phê.
“Mã số vùng trồng là yếu tố tiên quyết trong việc truy xuất nguồn gốc nông sản, đảm bảo chất lượng sản phẩm, hiện được nhiều địa phương và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tích cực áp dụng. Các sản phẩm chủ lực của tỉnh như cà phê, hồ tiêu, sầu riêng, chanh leo, chuối… đều đã được cấp mã số, qua đó khẳng định chất lượng trên thị trường quốc tế”, bà Nguyễn Thị Tố Trân chia sẻ.
Tăng tốc thiết lập mã số vùng trồng
Gia Lai đang tích cực hợp tác với các doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân để xây dựng vùng nguyên liệu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, 4C, Organic, Rainforest Alliance, FLO nhằm nâng cao chất lượng và giá trị nông sản xuất khẩu, qua đó tiếp tục xây dựng mã số vùng trồng cho toàn bộ sản phẩm nông sản của tỉnh.
“Việc xây dựng mã số vùng trồng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực xuất khẩu, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội địa phương, từng bước xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững”, ông Đoàn Ngọc Có, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai nhấn mạnh.
Lợi thế lớn nhất của Gia Lai trong xuất khẩu nông sản hiện nay là quỹ đất sản xuất rộng, đa dạng và có khả năng chuẩn hóa cao. Bên cạnh đó, theo đánh giá của Sở Công thương Gia Lai, hệ thống doanh nghiệp xuất khẩu của tỉnh đang phát triển cả về số lượng lẫn năng lực chế biến sâu, từng bước hình thành chuỗi giá trị nông sản gắn với truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn xanh, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường có yêu cầu kỹ thuật cao như EU, Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Với sự mở rộng công suất các nhà máy chế biến và những tín hiệu thuận lợi từ ngành hàng trái cây tươi, xuất khẩu nông sản Gia Lai được kỳ vọng sẽ tiếp tục bứt phá trong năm 2026.

Ông Đoàn Ngọc Có, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai bên vườn chanh leo đã được cấp mã số vùng trồng. Ảnh:ĐT.
Đến nay, Gia Lai đã được cấp 54 mã số vùng trồng sầu riêng với diện tích trên 1.280ha, sản phẩm đã xuất khẩu sang các thị trường như Trung Quốc, Hoa Kỳ, New Zealand, Úc… Việc quản lý mã số vùng trồng ở Gia Lai được thực hiện nghiêm ngặt, thành viên buộc phải ghi chép đầy đủ nhật ký sản xuất, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đúng danh mục.
Theo ông Trần Xuân Khải, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV Gia Lai, thời gian tới, ngành chức năng tiếp tục phối hợp với các địa phương tập trung phát triển vùng sản xuất hàng hóa, vùng nguyên liệu đạt chuẩn, sản xuất theo hợp đồng gắn với thị trường tiêu thụ – xuất khẩu, đồng thời xây dựng, thiết lập mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói nông sản.



















