
Lấy khoa học công nghệ làm động lực chính cho mô hình tăng trưởng mới. Ảnh:VGP.
Thành tựu nhiệm kỳ XIII tạo nền tảng chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Giai đoạn 2021-2025, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ước đạt bình quân khoảng 6,3%/năm, thuộc nhóm cao của khu vực và thế giới. Quy mô GDP năm 2025 dự kiến vượt 510 tỷ USD, tăng khoảng 1,47 lần so với năm 2020; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD, đưa Việt Nam chính thức bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao.
Song song với tăng trưởng kinh tế, các lĩnh vực văn hóa, xã hội và an sinh xã hội có nhiều chuyển biến tích cực; quốc phòng, an ninh được tăng cường; đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được mở rộng và nâng tầm. Ba đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến rõ nét trong cải cách môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng nhân lực và mở rộng không gian phát triển.
Ba đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm. Tư duy xây dựng và tổ chức thực thi pháp luật từng bước được đổi mới theo hướng phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, gắn với cải cách thủ tục hành chính. Chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng lên. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội có bước phát triển đáng kể với hàng loạt công trình quy mô lớn, hiện đại được đầu tư, từ hệ thống đường bộ cao tốc, sân bay, cảng biển đến hạ tầng số, góp phần tạo diện mạo mới cho đất nước và mở rộng không gian phát triển.
Đáng chú ý, đầu tư chokhoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được tăng cường, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao, xây dựng trung tâm dữ liệu quốc gia, ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử. Những kết quả này đã góp phần thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của nền kinh tế. Vai trò của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng thể hiện rõ trong nhiều ngành, lĩnh vực, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của nền kinh tế.
Tuy nhiên, Dự thảo Báo cáo Chính trị cũng thẳng thắn chỉ ra rằngkhoa học, công nghệ vàđổi mới sáng tạochưa thực sự trở thành động lực chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Kết cấu hạ tầng còn thiếu đồng bộ; cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn bất cập; thị trường khoa học và công nghệ phát triển chậm; doanh nghiệp chưa giữ vai trò trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Động lực mới cho phát triển nhanh, bền vững
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển nhanh, sâu rộng, đặc biệt với sự bứt phá của trí tuệ nhân tạo và công nghệ cao, cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng tập trung vào công nghệ, chuỗi cung ứng và năng lực đổi mới sáng tạo. Trước xu thế đó, Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới quyết liệt và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo vàchuyển đổi sốtheo nguyên tắc thị trường, phù hợp thông lệ quốc tế.

Ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong nông nghiệp giúp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. Ảnh:Minh Nguyễn.
Trọng tâm là tháo gỡ dứt điểm các nút thắt về cơ chế quản lý, đầu tư, tài chính và tự chủ của các tổ chức khoa học và công nghệ; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, ứng dụng và từng bước làm chủ công nghệ mới, công nghệ cao. Phát triển khoa học được định hướng đồng bộ, liên ngành, có trọng tâm, trọng điểm; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh; tăng cường hợp tác công – tư; thu hút, đào tạo và trọng dụng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao.
Dự thảo yêu cầu ưu tiên tiếp thu, chuyển giao, ứng dụng sáng tạo và từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, nhất là trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn, năng lượng mới, công nghệ không gian vũ trụ và công nghệ lượng tử. Nghiên cứu cơ bản được chú trọng gắn với định hướng ứng dụng, làm chủ công nghệ và bảo đảm chủ quyền quốc gia trong các lĩnh vực then chốt.
Song song với đó là thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, gắn với bảo đảm an ninh, an toàn; phát triển hạ tầng số, dữ liệu lớn và kinh tế dữ liệu; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong quản lý, điều hành của Đảng và Nhà nước; hình thành xã hội số, công dân số. Thị trường khoa học và công nghệ được phát triển đồng bộ, liên thông với khu vực và thế giới; liên kết viện – trường – doanh nghiệp được tăng cường.
Đặc biệt, Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV xác định phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm của cả nhiệm kỳ, gắn chặt với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại và phát triển lực lượng sản xuất mới. Mục tiêu giai đoạn 2026-2030 được xác định rõ: kinh tế số đạt khoảng 30% GDP, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) trên 55%, tốc độ tăng năng suất lao động khoảng 8,5%/năm.

Xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ảnh:Minh Ngọc.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Dự thảo Báo cáo xác định ba đột phá chiến lược gồm đột phá về thể chế phát triển nhằm khơi thông mọi nguồn lực; đột phá về nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao và đột phá về kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, với trọng tâm là hạ tầng công nghệ, hạ tầng số phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng.
Xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là lựa chọn chiến lược mang tính quyết định đối với phát triển đất nước trong giai đoạn tới. Trên nền tảng thành tựu của nhiệm kỳ Đại hội XIII, thách thức lớn nhất không nằm ở định hướng, mà ở năng lực tổ chức thực hiện, để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng nhanh và bền vững.



















