01:03:35 20/04/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Kết nối cung – cầu, đưa sản phẩm khoa học đến gần người dân

Kết nối cung – cầu không chỉ là hoạt động xúc tiến thương mại đơn thuần mà còn là quá trình gắn kết giữa nghiên cứu khoa học, sản xuất và thị trường tiêu thụ. Khi các kết quả nghiên cứu được chuyển giao vào thực tiễn và sản phẩm sản xuất có đầu ra ổn định, giá trị của khoa học và công nghệ (KH&CN) cũng như của sản xuất nông nghiệp được nâng lên rõ rệt. Trong quá trình đó, các đơn vị kỹ thuật và chuyển giao công nghệ đóng vai trò cầu nối quan trọng.

Trong năm qua, trung tâm đã duy trì năng lực phòng thí nghiệm đạt chuẩn VILAS theo tiêu chuẩn ISO/IEC, qua đó bảo đảm các hoạt động thử nghiệm đáp ứng yêu cầu kỹ thuật hiện hành. Trên nền tảng đó, đơn vị thực hiện kiểm định, hiệu chuẩn hơn 11.000 phương tiện đo các loại, góp phần bảo đảm tính chính xác trong các giao dịch thương mại, sản xuất và dịch vụ. Cùng với đó, 1.425 mẫu hóa sinh và môi trường đã được phân tích, cung cấp dữ liệu khoa học phục vụ công tác quản lý chất lượng sản phẩm và kiểm soát môi trường.

Không chỉ dừng lại ở hoạt động kỹ thuật, trung tâm còn khảo sát nhu cầu của nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nhằm nắm bắt những khó khăn, vướng mắc trong quá trình ứng dụng công nghệ mới. Trên cơ sở đó, đơn vị tư vấn giải pháp kỹ thuật, giới thiệu các sản phẩm KH&CN phù hợp với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các hội nghị, hội thảo kết nối cung – cầu và hoạt động trưng bày, giới thiệu sản phẩm KH&CN cũng được tổ chức thường xuyên, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận các giải pháp kỹ thuật mới. Những hoạt động này góp phần rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất. Khi các kết quả nghiên cứu được chuyển giao và ứng dụng vào thực tiễn, doanh nghiệp có thêm giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất, còn các nhà khoa học có cơ hội đưa sản phẩm nghiên cứu ra thị trường. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng giúp thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp.

Cùng với việc hỗ trợ chuyển giao KH&CN, các địa phương trong tỉnh cũng đẩy mạnh phát triển các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản, thực phẩm an toàn. Việc hình thành các chuỗi cung ứng giúp kiểm soát tốt hơn quá trình sản xuất, đồng thời tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm. Năm 2025, toàn tỉnh đã xây dựng và duy trì 87 chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn, qua đó cung cấp ra thị trường khoảng 669.407 tấn thực phẩm tiêu dùng. Các sản phẩm chủ yếu gồm 378.765,5 tấn lúa gạo, 138.419 tấn rau, 88.348 tấn thịt gia súc, gia cầm và 63.875 tấn thủy sản.

Các chuỗi cung ứng này được tổ chức theo hướng liên kết giữa nhiều chủ thể trong sản xuất và tiêu thụ, bao gồm hộ nông dân, HTX, trang trại, doanh nghiệp chế biến và các đơn vị phân phối. Nhờ có sự liên kết này, từng công đoạn trong quá trình sản xuất được kiểm soát chặt chẽ hơn, từ khâu sản xuất ban đầu đến thu hoạch, sơ chế, vận chuyển và tiêu thụ.

Đối với người sản xuất, việc tham gia chuỗi liên kết giúp tiếp cận quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và các phương thức sản xuất an toàn. Nhiều hộ nông dân, trang trại được hỗ trợ về giống, kỹ thuật và hướng dẫn áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Đồng thời, khi có hợp đồng liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp hoặc HTX, người sản xuất cũng giảm bớt rủi ro về thị trường.

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp và các đơn vị phân phối có thể chủ động hơn trong việc xây dựng nguồn cung nguyên liệu ổn định, bảo đảm chất lượng đồng đều. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các cơ sở chế biến và hệ thống phân phối hiện đại, nơi yêu cầu về chất lượng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm ngày càng cao.

Sự phát triển của các chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn cũng góp phần thúc đẩy hoạt động của các HTX, tổ hợp tác và trang trại. Khi tham gia chuỗi liên kết, các đơn vị này không chỉ tập trung vào sản xuất mà còn mở rộng sang các khâu sơ chế, đóng gói và bảo quản sản phẩm. Việc gắn sản xuất với sơ chế và phân phối giúp nâng cao giá trị nông sản, đồng thời đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường.

Bên cạnh hệ thống phân phối truyền thống, các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp trong tỉnh cũng từng bước mở rộng kênh tiêu thụ thông qua các nền tảng thương mại điện tử. Hiện nay, khoảng 600 doanh nghiệp, HTX và cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh nông sản, thực phẩm và sản phẩm OCOP đang duy trì hoạt động quảng bá và bán hàng trên các sàn thương mại điện tử như Voso, Postmart, Lazada, Shopee, Tiki… Việc đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử giúp nông sản và thực phẩm an toàn tiếp cận thị trường rộng hơn, không chỉ trong tỉnh mà còn ở nhiều địa phương khác. Đồng thời, các nền tảng số cũng hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động quảng bá, thanh toán và vận chuyển, giúp quá trình tiêu thụ sản phẩm thuận lợi hơn.

Thực tế cho thấy, khi kênh phân phối được mở rộng, khả năng tiêu thụ sản phẩm cũng ổn định hơn. Đây là yếu tố quan trọng khuyến khích người dân và doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất theo hướng an toàn, bền vững. Sự kết nối giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ cũng giúp hình thành hệ sinh thái nông nghiệp gắn với thị trường, thay vì sản xuất nhỏ lẻ, manh mún như trước. Khi các khâu từ nghiên cứu khoa học, sản xuất, chế biến đến tiêu thụ được gắn kết chặt chẽ, sản phẩm không chỉ đáp ứng yêu cầu của thị trường mà còn tạo động lực cho sản xuất phát triển ổn định và bền vững.

Nguồn: baothanhhoa.vn (Anh Hùng st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

1451/QĐ-UBND

Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

827/QĐ-BNNMT

Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại129
  • Tổng lượt truy cập148
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây