16:34:26 19/04/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

HTX nối dài chuỗi giá trị từ cây dứa

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, diện tích trồng dứa ở Việt Nam hiện là khoảng 52.000 ha, năng đạt 184 tạ/ha, sản lượng hơn 860.000 tấn/năm.

Tăng cường kết nối

Đánh giá của Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho thấy, nhu cầu về dứa và các sản phẩm từ dứa trên thế giới đang rất lớn và nhiều quốc gia đang rơi vào tình trạng khan hiếm.

Trước thực trạng này và nhận thấy rõ tiềm năng ở Việt Nam, các cơ quan chức năng đã đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ đưa diện tích dứa cả nước đạt khoảng 60.000 ha với sản lượng khoảng 900.000 tấn.

Đứng trước cơ hội phát triển như vậy, không ít HTX trên cả nước đã chú trọng đầu tư theo những cách khác nhau để nâng cao chất lượng, diện tích và cả giá trị gia tăng.

Tại HTX Hương Sơn (Bắc Ninh), để nâng cao chất lượng, HTX đã chủ yếu sử dụng phân hữu cơ từ thời điểm 1-2 tháng sau khi trồng. Còn lại, dứa được phát triển tự nhiên, HTX chỉ tập trung vào khâu làm cỏ, chăm tỉa và chờ thu hoạch. Đặc biệt, dứa hoàn toàn không cần phải sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, chất bảo quản bởi cây gần như không có sâu bệnh, sống khỏe mạnh trên vùng đồi cao như một số loài cây hoang dã.

Dứa của HTX mang vị ngọt đậm đà, được thực hiện truy xuất nguồn gốc rõ ràng. HTX cũng công khai thông tin trang trại, nhà cung cấp vật tư rõ ràng và sản phẩm được kiểm nghiệm định kỳ để bảo đảm chất lượng sản phẩm khi đến tay người tiêu dùng.

HTX nối dài chuỗi giá trị từ cây dứa
Những mô hình liên kết sản xuất dứa theo chuỗi ngày càng được chú trọng.

HTX cũng đã liên kết với các nhà khoa học để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất dứa trái vụ nhằm gia tăng nguồn thu và sản lượng, giúp người trồng dứa yên tâm gắn với loại cây này.

Tại Nghệ An, HTX dứa AE&TA và HTX Dứa NAQUEEN đã liên kết với những doanh nghiệp dứa đầu ngành trên cả nước để phát triển vùng nguyên liệu trên quy mô lớn gắn với chế biến và tiêu thụ.

Đặc biệt, trong mối liên kết này, người dân, thành viên HTX có nhu cầu trồng dứa đều có thể tham gia và được hưởng những chính sách hỗ trợ từ Nhà nước như hỗ trợ đến 80% giống dứa, hỗ trợ tiền làm đất, tiền nilon phủ luống. Các HTX cũng cho người dân, thành viên nợ 100% tiền phân bón, ngoài ra còn cho nợ tiền cày, làm đất. HTX đứng ra ký kết hợp đồng bao tiêu với doanh nghiệp. Giá thu mua theo giá thị trường nhưng không thấp hơn 7.000 đồng/kg nhằm đảm bảo quyền lợi cho thành viên và hộ liên kết.

Bằng hình thức này, dứa được trồng theo quy trình an toàn hoặc hữu cơ để cung cấp cho các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Ngoài ra, các HTX cũng tìm được nguồn tiêu thụ ở thị trường trong nước hoặc tự xuất khẩu. Như HTX dứa AE&TA đã xuất khẩu được hàng trăm tấn dứa sang Nhật Bản, Hàn Quốc… giúp mở rộng đầu ra và khẳng định quy trình sản xuất.

Tích cực chế biến sâu

Không chỉ dừng lại ở mở rộng vùng nguyên liệu, chuẩn hóa chất lượng, xuất tươi, nhiều HTX đã đẩy mạnh đầu tư vào nghiên cứu, chế biến để nâng cao giá trị.

Tại HTX Cần Thơ Farm (Cần Thơ), thay vì vứt bỏ lá dứa như cách canh tác truyền thống, các thành viên đã tuyển chọn lá dứa đạt chuẩn từ những cây dứa có tuổi thọ 4 năm trở lên để sản xuất sợi phục vụ cho ngành may mặc.

HTX đầu tư máy dập, tuốt sợi, máy sấy sạch. Ngoài phơi nắng tự nhiên, HTX còn đầu tư máy sấy sợi để hạn chế phụ thuộc vào thời tiết.

Theo tính toán của HTX khoảng 60kg lá dứa tươi sẽ cho 1kg sợi và giá doanh nghiệp thu mua sợi lá dứa là khoảng 170.000 đồng/kg. Hiện, HTX đang đứng ra thu mua lá dứa đạt chuẩn của người dân và thành viên với giá 1.000 đồng/kg. Lá dứa được tận dụng chế biến sâu giúp người dân không phải tốn nhiều công phá cây như trước mà còn gia tăng nguồn thu.

HTX nối dài chuỗi giá trị từ cây dứa
Dứa hữu cơ của HTX Hạnh Phúc là nguyên liệu chế biến ra nhiều sản phẩm.

Cũng đang trên hành trình gia tăng giá trị từ cây dứa, HTX Nông sản Hạnh Phúc (Nghệ An) không chỉ cung cấp ra thị trường những trái dứa được trồng và chăm bón theo quy trình khoa học như không sử dụng nguồn giống biến đổi gen, không sử dụng thuốc trừ cỏ trong quá trình chăm sóc, không sử dụng thuốc kích thích để làm to quả, không sử dụng thuốc phun thuốc ép chín mà để quả chín tự nhiên và thu hái không đồng loạt. Ngoài ra, HTX phun thuốc siêu kali để kích ngọt cho quả dứa và không dùng chất bảo quản. Chính vì vậy mà quả dứa của HTX đã được chứng nhậnOCOP, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thuyết phục nhiều khách hàng nước ngoài khó tính.

Không dừng lại ở đó, HTX nông sản Hạnh Phúc còn tiên phong chế biến sợi dứa từ lá của loại cây này bằng công nghệ Ecosoi hay Ecofa. Sợi dứa do HTX làm ra có độ bền cao, chống được tia UV và kháng khuẩn nên trở thành nguyên liệu bền vững phục vụ cho ngành thời trang xanh toàn cầu. Đến nay, sợi từ lá dứa của HTX đã xuất sang các thị trường khó tính như EU, Thụy Sỹ…

Việc đưa công nghệ vào biến 60kg lá tươi thành 1kg sợi thô cho giá bán từ 170.000-180.000 đồng/kg, HTX Hạnh Phúc đã nâng cao giá trị khoảng 30-40% và hạn chế ô nhiễm môi trường sau thu hoạch.

Với tầm nhìn dài hạn, HTX Hạnh Phúc đã áp dụng quy trình sản xuất tuần hoàn khi quả dứa tươi hiện đã được chế biến thành bánh dứa, mứt dứa, dứa sấy dẻo, dứa đông lạnh. Vỏ dứa HTX được tận dụng để làm enzym chất tẩy rửa, nước rửa bát. Cách làm này giúp HTX đa dạng hóa sản phẩm từ một cây trồng truyền thống của địa phương, từ đó giải quyết được bài toán tối ưu hóa lợi nhuận từ sản xuất.

Còn tại HTX nông nghiệp sạch Thùy Dương (Bắc Ninh), bằng việc đầu tư vào công nghệ chế biến quả dứa, HTX đang cung ứng ra thị trường sản phẩm dứa sấy đóng hộp, trà dứa… HTX cũng chỉ sản xuất theo mùa để bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.

Có thể thấy, việc chuyển dịch từ sản xuất thô sang chế biến sâu (dứa đóng hộp, sợi vải, dứa sấy…) giúp các HTX chủ động hơn trong tiêu thụ và gia tăng giá trị kinh tế lên gấp nhiều lần so với việc bán nông sản thô.

Tầm quan trọng của chuỗi giá trị

Nhìn rộng ra bức tranh toàn cảnh, ngành hàng dứa Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của sự bứt phá với mục tiêu đạt 60.000 ha và sản lượng khoảng 900.000 tấn vào năm 2030. Để làm được điều này, việc xây dựng và phát triển các chuỗi giá trị bền vững với sự tham gia của người dân, HTX, doanh nghiệp là điều kiện vô cùng quan trọng.

Bởi chuỗi giá trị hàng hóa không chỉ đơn thuần giúp gắn kết khâu sản xuất đến bán hàng, mà còn giúp nâng chất lượng loại nông sản này và các sản phẩm chế biến liên quan. Các chuỗi giá trị được hình thành thì việc xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn trên quy mô lớn và đầu tư công nghệ chế biến sẽ thuận lợi hơn, từ đó sẽ tăng khả năng tiếp cận thị trường.

Trong chuỗi giá trị này, các HTX sẽ là “mắt xích” quan trọng, giúp tập hợp những hộ sản xuất nhỏ lẻ thành một khối thống nhất, đủ sức mạnh để thương thảo với các doanh nghiệp và đáp ứng các chứng chỉ quốc tế.

Khi phát triển được các chuỗi giá trị bền vững, thế mạnh và tiềm năng để phát triển loại nông sản này của Việt Nam sẽ được khai phá và tình trạng phải “giải cứu” sẽ không còn. Chuỗi giá trị dứa bền vững nếu được chú trọng sẽ tạo ra hệ sinh thái kinh tế nông nghiệp tuần hoàn, giúp mọi thành phần của cây dứa đều được tận dụng. Đây chính là đòn bẩy để nâng cao vị thế của nông sản Việt trên bản đồ thế giới, đồng thời đảm bảo sự phát triển cho khu vực kinh tế tập thể trong kỷ nguyên mới.

Nguồn: vnbusiness.vn (Nguyễn Nhung st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

1451/QĐ-UBND

Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

827/QĐ-BNNMT

Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại130
  • Tổng lượt truy cập148
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây