22:21:58 02/03/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Hồi sinh vùng chè Shan tuyết cổ thụ gắn với chỉ dẫn địa lý

Việc gắn mã số vùng trồng, chuẩn hóa quy trình canh tác hữu cơ và xác lập chỉ dẫn địa lý đang trở thành “chìa khóa” để đưa tinh hoa trà bản địa chinh phục các thị trường cao cấp, hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững tại các địa bàn vùng cao.

Hồi sinh vùng chè Shan tuyết cổ thụ gắn với chỉ dẫn địa lý
Thu hái chè Shan tuyết Suối Giàng, xã Văn Chấn.

Thực tế khảo sát tại các vùng chè trọng điểm cho thấy, sự thay đổi lớn nhất không nằm ở diện tích mà ở tư duy canh tác và giá trị thương hiệu. Tại xã Văn Chấn, nơi sở hữu 84.000 cây trà Shan tuyết có tuổi đời từ 200 đến 500 năm, cây chè đã thoát khỏi thân phận cây trồng tự phát để trở thành sản phẩm OCOP tiềm năng 5 sao.

Với 500 ha vùng nguyên liệu, trong đó có 293 ha là rừng trà cổ thụ, chính quyền địa phương đã quyết liệt trong việc thiết lập chỉ dẫn địa lý “Suối Giàng Văn Chấn” cho 5 đơn vị sản xuất chủ lực.Dưới góc độ nghiên cứu sâu, tiến sỹ Đào Xuân Hưng – Chuyên gia nghiên cứu nhận định, ngành chè, đặc biệt là trà Shan tuyết Suối Giàng đang sở hữu tiềm năng lớn để vươn tầm quốc gia và quốc tế nhờ quần thể hơn 40.000 cây chè cổ thụ quý hiếm, nhiều cây từ 100 đến hơn 500 năm tuổi, phân bố trên 400 ha rừng tự nhiên ở độ cao khoảng 1.400 m. Đây là tài nguyên sinh thái, văn hóa đặc biệt hiếm có, gắn bó mật thiết với đời sống của cộng đồng dân tộc nơi đây.Tuy nhiên, chuyên gia này cũng thẳng thắn chỉ rõ: “Giá trị sản phẩm vẫn chưa tương xứng, thương hiệu chưa được định vị rõ ràng, chuỗi liên kết còn yếu và ứng dụng khoa học công nghệ chưa đồng bộ”.

Chất lượng sản phẩm đã có sự chuyển biến rõ rệt khi công nghệ số và năng lượng sạch được đưa vào xưởng chế biến. Thay vì sao chè bằng củi thủ công gây khói bụi và nhiệt độ không ổn định, các hợp tác xã đã chuyển đổi sang sử dụng điện và ga.Sự chuyên nghiệp hóa này đã trực tiếp cải thiện đời sống người dân. Bà Vàng Thị Gia – Thôn Pang Cáng, xã Văn Chấn, tỉnh Lào Cai chia sẻ rằng, ngoài thu nhập từ vườn chè của gia đình, việc làm công nhân tại hợp tác xã giúp bà có thêm mức lương ổn định khoảng 6 triệu đồng/tháng, góp phần ổn định kinh tế gia đình so với phương thức làm ăn nhỏ lẻ trước đây.

Hồi sinh vùng chè Shan tuyết cổ thụ gắn với chỉ dẫn địa lý
Các sản phẩm OCOP từ chè Shan tuyết.

Mô hình liên kết giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế cũng được triển khai bài bản tại xã Sơn Lương.

Với hơn 500 ha chè Shan tuyết nằm ở độ cao từ 1.200 đến 1.900m, đặc biệt là 80 ha chè cổ thụ tại thôn Giàng Pằng đã được công nhận Cây Di sản Việt Nam, địa phương xác định sản xuất hữu cơ là con đường duy nhất để giữ thương hiệu.

Ông Giàng A Lứ – Trưởng Phòng Kinh tế, xã Sơn Lương nhấn mạnh: “Mục tiêu cốt lõi là phát triển vùng chè theo hướng bền vững, có sự chung tay của “ba nhà”: Nhà nước, nhà nông và nhà đầu tư”.

Tuy nhiên, bức tranh “hồi sinh” vùng chè vẫn còn những mảng màu cần tháo gỡ, điển hình là tại xã Cao Sơn.

Dù sở hữu gần 40 ha chè cổ thụ với giá búp tươi đạt 60.000 – 70.000 đồng/kg, nhưng tình trạng “được mùa mất giá” vẫn diễn ra do thiếu năng lực chế biến sâu.

Hồi sinh vùng chè Shan tuyết cổ thụ gắn với chỉ dẫn địa lý
Chè Shan tuyết cổ thụ tại xã Cao Sơn, tỉnh Lào Cai.

Theo ông Sùng Páo – thôn Tả Thàng, xã Cao Sơn, tỉnh Lào Cai, thực trạng các xưởng thu mua hoạt động không ổn định, dẫn đến việc tiêu thụ sản phẩm của bà con gặp khó khăn trong các vụ cao điểm.

Ông Trần Hoàng Anh – Chủ tịch UBND xã Cao Sơn, tỉnh Lào Cai thừa nhận, nguyên nhân nằm ở khâu kết nối đầu ra của doanh nghiệp chưa mạnh.Để giải quyết bài toán bền vững cho toàn vùng, quan điểm của các chuyên gia và lãnh đạo tỉnh là phải xây dựng được chuỗi giá trị khép kín gắn với “bảo tồn động”.

Đồng chí Nông Việt Yên – Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh cho rằng, trà Shan tuyết phải được coi là “linh hồn thương hiệu vùng cao Tây Bắc”. Khi khách hàng thưởng thức chén trà từ cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi, họ không chỉ mua một loại đồ uống mà đang trải nghiệm lịch sử và văn hóa của đồng bào dân tộc Mông. Do đó, việc xác định tuổi cây, quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với du lịch trải nghiệm là hướng đi tất yếu.

Về phía đơn vị sản xuất, Ông Giàng A Súa – Giám đốc Công ty TNHH Sổng Gia Trà, xã Văn Chấn cam kết sẽ duy trì quy trình truy xuất nguồn gốc rõ ràng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng nghiêm ngặt.

Chỉ dẫn địa lý không chỉ là một tấm “giấy thông hành” để vào các siêu thị lớn tại Hà Nội hay TP.HCM, mà còn là cam kết về chất lượng đối với người tiêu dùng quốc tế.

Sự hồi sinh của các vùng chè Shan tuyết cổ minh chứng cho hiệu quả của việc kiên trì theo đuổi lộ trình chuẩn hóa nông sản. Bằng cách gắn chặt quyền lợi của người dân với giá trị của chỉ dẫn địa lý, Lào Cai đang từng bước biến những rừng trà di sản thành khối tài sản xanh bền vững.

Hồi sinh vùng chè Shan tuyết cổ thụ gắn với chỉ dẫn địa lý
Du khách thưởng thức Trà Shan tuyết Suối Giàng tại Triển lãm A80.

Nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn tới là tiếp tục nâng cao năng lực chế biến sâu và mở rộng liên kết vùng để thương hiệu trà Shan tuyết không chỉ dừng lại ở tiềm năng mà thực sự trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực, mang lại ấm no cho đồng bào các dân tộc vùng cao.

Nguồn: baolaocai.vn (Đặng Hòa st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

320/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

319/QĐ-TTg

Phê duyệt Đề án về chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử đến năm 2025

263/QĐ-TTg

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025

18/2022/QĐ-TTg

Ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại0
  • Tổng lượt truy cập17
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây