10:39:36 18/04/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Gỡ khó để phát triển bền vững chuỗi liên kết, tiêu thụ sản phẩm OCOP

– Sau 8 năm triển khai thực hiện, Chương trình OCOP đã tạo ra “luồng gió mới” cho phát triển kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, để sản phẩm OCOP không chỉ dừng lại ở danh hiệu mà thực sự “sống khỏe” trên thị trường, việc tháo gỡ các nút thắt trong chuỗi liên kết và tiêu thụ là bài toán cấp bách hiện nay.

Gỡ khó để phát triển bền vững chuỗi liên kết, tiêu thụ sản phẩm OCOPVùng sản xuất dong riềng nguyên liệu của HTX Miến dong Thành Minh, xã Thành Vinh.

Theo thống kê của Văn phòng Điều phối Chương trình XDNTM, tính đến tháng 1/2026, tỉnh Thanh Hóa đã có 661 sản phẩm OCOP; trong đó, có 2 sản phẩm 5 sao, 59 sản phẩm OCOP 4 sao và 600 sản phẩm 3 sao. Có khoảng 65% sản phẩm trong số đó đã xây dựng được các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm trong, ngoài tỉnh. Đặc biệt, có khoảng 40 sản phẩm OCOP tham gia xuất khẩu sang các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản… Dù số lượng sản phẩm OCOP tăng nhanh, chất lượng một số sản phẩm đã được khẳng định nhưng thực tế cho thấy sự phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh.

Với lợi thế về đất đai, khí hậu, xã Thành Vinh đã phát triển được hàng trăm héc-ta dong riềng, một nhóm hộ duy trì được nghề sản xuất miến dong. Với kỹ thuật sản xuất lâu đời và chất lượng của nguyên liệu tốt nên sản phẩm miến dong của địa phương được người tiêu dùng, thị trường đánh giá cao. Để phát triển bền vững, hiệu quả chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm miến dong, năm 2018, các hộ đã liên kết thành lập HTX Miến dong Thành Minh và xây dựng sản phẩm đạt chất lượng OCOP 3 sao năm 2022. Bà Trương Thị Thuần, Giám đốc HTX Miến dong Thành Minh, cho biết: “HTX đã chủ động sản xuất khoảng 1ha dong riềng và thu mua khoảng 150 tấn củ dong nguyên liệu của người dân để chế biến miến dong. Tuy nhiên, HTX chưa có đủ tiềm lực kinh tế để đầu tư máy móc, kho bảo quản nên sản lượng sản xuất còn khiêm tốn, chủ yếu sản xuất ở mùa thu hoạch dong. Ở nhiều thời điểm, nhu cầu của thị trường lớn, song HTX không có đủ khả năng sản xuất quy mô lớn, cung ứng cho các đầu mối tiêu thụ. Điều này cũng dẫn đến sự thiếu bền vững trong lộ trình phát triển và xây dựng thương hiệu của sản phẩm miến dong Thành Minh”.

Tương tự với nhiều sản phẩm OCOP khác, dù chất lượng tốt, được người tiêu dùng đánh giá cao nhưng sản lượng không ổn định, khiến các hệ thống tiêu thụ lớn, hiện đại e dè khi ký kết hợp đồng dài hạn.

Tỉnh Thanh Hóa nổi tiếng với những sản phẩm như: nem chua, bánh gai Tứ Trụ, bánh lá răng bừa và một số loại mắm tôm, mắm tép truyền thống. Các chủ thể sản xuất đã phát triển thành công những sản phẩm nói trên thành sản phẩm OCOP với những câu chuyện sản phẩm riêng biệt. Tuy nhiên, do nét riêng trong sản xuất nên điểm nhấn ở hầu hết các sản phẩm OCOP truyền thống chính là hương vị mà không phải là bao bì, nhãn mác sang trọng, biết cách kể câu chuyện văn hóa vùng miền để chạm đến cảm xúc người tiêu dùng.

Chị Đào Thị Lương, quản lý cửa hàng trưng bày và bán sản phẩm OCOP tại đường Bà Triệu, phường Hạc Thành, cho biết: “Rào cản lớn trong phát triển các chuỗi liên kết, tiêu thụ sản phẩm OCOP mà các chủ thể OCOP, đặc biệt là các HTX và hộ sản xuất trên địa bàn tỉnh đang gặp phải chính là: năng lực quản trị và quy mô sản xuất nhỏ lẻ; chi phí logistics cao và câu chuyện thương hiệu. Nếu tháo gỡ được những hạn chế “kinh niên” này thì chắc chắn sản phẩm OCOP Thanh Hóa sẽ phát triển mạnh mẽ, có sức cạnh tranh lớn trên thị trường”.

Thực tế cho thấy, việc xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm OCOP là một trong những giải pháp thiết thực, không chỉ giúp các chủ thể chủ động được nguồn nguyên liệu để cung ứng theo nhu cầu của thị trường, khách hàng mà còn giúp chủ thể duy trì, bảo đảm được chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quy định. Tuy nhiên, qua những khảo sát thực tế của cơ quan chuyên môn, những rào cản về năng lực, quy mô sản xuất, đầu tư xây dựng hạ tầng sản xuất và phát triển thương hiệu vẫn đang hiện hữu, trở thành lực cho phát triển chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm OCOP nhất là trong bối cảnh năm 2026, chuyển đổi số không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc.

Nhằm tháo gỡ những khó khăn và phát huy hiệu quả của các chuỗi liên kết, tiêu thụ sản phẩm OCOP, tỉnh đã và đang triển khai các hoạt động liên kết, xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu giữa các chủ thể có sản phẩm OCOP với các siêu thị, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Cùng với đó, ngoài chính sách chung của tỉnh, các xã, phường cũng quan tâm hỗ trợ chủ thể hình thành vùng nguyên liệu, đào tạo lao động, đầu tư nâng cấp hệ thống sản xuất và xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm OCOP. Song song với sự hỗ trợ từ các cấp chính quyền, nhiều chủ thể sản xuất đã chủ động đẩy mạnh đưa sản phẩm OCOP lên các sàn thương mại điện tử và nền tảng xuyên biên giới. Việc ứng dụng truy xuất nguồn gốc bằng mã QR giúp minh bạch hóa quá trình sản xuất, xây dựng niềm tin với khách hàng. Trong đó, có nhiều chủ thể đã và đang sử dụng hiệu quả xu hướng thương mại điện tử giải trí thông qua livestream bán hàng ngay tại vùng nguyên liệu. Từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế và thu nhập cho người dân, nhất là ở khu vực nông thôn.

Nguồn: baothanhhoa.vn (Minh Hiền st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

1451/QĐ-UBND

Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

827/QĐ-BNNMT

Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại130
  • Tổng lượt truy cập148
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây