11:40:16 09/02/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Giảm nghèo đa chiều: Từ trụ cột chính sách đến động lực chuyển đổi số

Là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, Việt Nam đã kiên định coi giảm nghèo là trụ cột trong chiến lược phát triển quốc gia. Từ cách tiếp cận dựa trên bảo đảm mức sống tối thiểu, chính sách giảm nghèo đang chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình bền vững hơn, trong đó chuyển đổi số nổi lên như một động lực mới mở rộng không gian phát triển cho người nghèo.

Giảm nghèo đa chiều: Từ trụ cột chính sách đến động lực chuyển đổi số
Ứng dụng công nghệ cao vào trồng rau thủy canh.

Ngay từ đầu thập niên 2010, Việt Nam đã lựa chọn chuẩn nghèo đa chiều, thay cho cách tiếp cận đơn thuần dựa vào thu nhập. Cách làm này không chỉ nhằm đo lường chính xác hơn tình trạng nghèo, mà còn phản ánh rõ cam kết của Việt Nam đối với các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDG) của Liên hợp quốc, đặc biệt trong khuôn khổ Chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển bền vững. Giảm nghèo vì vậy không tách rời các mục tiêu về giáo dục, y tế, nước sạch, vệ sinh, thông tin và khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản.

Trên thực tế, phong trào giảm nghèo ở Việt Nam không chỉ là nỗ lực của Nhà nước, mà còn là kết quả của sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội. Các chương trình, chính sách đã được thiết kế theo hướng huy động tổng lực các nguồn lực, lan tỏa đến từng cộng đồng, từng hộ gia đình. Đáng chú ý, tư duy “hỗ trợ để tự vươn lên” dần thay thế cách tiếp cận dựa nhiều vào trợ cấp, khuyến khích người dân chủ động đổi mới, sáng tạo để thoát nghèo.

Những chuyển biến về tư duy và cách làm đã mang lại kết quả rõ nét. Theo Báo cáo tóm tắt Kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2025 và 5 năm 2021-2025 của Chính phủ, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống 1,3% năm 2025. Cũng theo Báo cáo này, thời gian qua, các chính sách người có công, an sinh xã hội, giảm nghèo được triển khai toàn diện và đạt nhiều kết quả nổi bật với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Trong nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ nghèo cũng giảm mạnh, xuống còn 12,5%, với mức giảm trung bình hằng năm khoảng 4,5%. Đây là những con số phản ánh hiệu quả của chính sách khi được triển khai đồng bộ, nhất quán và gắn với thực tiễn địa phương.

Tuy nhiên, công cuộc giảm nghèo vẫn đối mặt không ít thách thức. Ở một số vùng trung du, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, tỷ lệ nghèo vẫn cao hơn đáng kể so với mức trung bình cả nước, thậm chí có địa phương ghi nhận tỷ lệ trên 50%. Tại những cộng đồng xa xôi, hẻo lánh nhất, con số này có thể vượt quá 70%. Cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn, từ y tế, giáo dục đến sản xuất và logistics, tiếp tục là rào cản lớn.

Bên cạnh đó, các yếu tố như biến đổi khí hậu, già hóa dân số, đô thị hóa nhanh và bất ổn kinh tế toàn cầu đang tạo thêm áp lực đối với nhóm dễ bị tổn thương. Một bộ phận người dân vẫn phụ thuộc nhiều vào hỗ trợ của Nhà nước, cho thấy nhu cầu cấp thiết về những mô hình giảm nghèo bền vững hơn, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và văn hóa địa phương.

Việt Nam đang xây dựng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026 – 2030 với nhiều điều chỉnh quan trọng. Trong đó, chuyển đổi số đang được nhìn nhận như một “lời giải mới” cho bài toán giảm nghèo đa chiều. Công nghệ số đã thâm nhập sâu rộng vào nhiều lĩnh vực của đời sống, mở ra cơ hội cải thiện sinh kế cho người nghèo.

Nông nghiệp thông minh ứng dụng Internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI) giúp tăng năng suất từ 30 – 40%. Y tế số với hồ sơ sức khỏe điện tử toàn dân và khám chữa bệnh từ xa giúp người dân vùng sâu, vùng xa tiếp cận dịch vụ chất lượng cao. Giáo dục số với các nền tảng học trực tuyến và AI cá nhân hóa nội dung giảng dạy đang thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức.

Cùng với đó, Chính phủ số được hoàn thiện với tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến đạt 100%, nhiều khâu xử lý hồ sơ được hỗ trợ bởi AI, qua đó nâng cao hiệu quả và khả năng tiếp cận của người dân ở vùng khó khăn.

Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế và chuyên gia, chuyển đổi số có thể đóng góp trực tiếp cho giảm nghèo thông qua việc cải thiện khả năng tiếp cận thị trường, dịch vụ tài chính, y tế, giáo dục, đồng thời thúc đẩy tăng năng suất và tạo việc làm mới. Để các sáng kiến này phát huy hiệu quả, yêu cầu đặt ra là bảo đảm hạ tầng số có chi phí hợp lý, các mô hình triển khai gắn với cộng đồng và hướng tới nhóm yếu thế, qua đó tăng cường quyền sở hữu địa phương và tính bền vững.

Theo đánh giá của các chuyên gia giảm nghèo, chuyển đổi số đang mở ra ba cơ hội lớn cho người dân nghèo: xóa bỏ rào cản địa lý trong tiếp cận dịch vụ công và tài chính chính thức; nâng cao năng suất, thu nhập ngay cả trong các ngành truyền thống; và tạo ra những nghề nghiệp mới đòi hỏi kỹ năng số, mang lại nguồn sinh kế bền vững hơn. Trong tiến trình giảm nghèo đa chiều, đây được xem là động lực quan trọng giúp Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển bao trùm và bền vững.

Nguồn: vneconomy.vn.vn (Bá Việt st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

320/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

319/QĐ-TTg

Phê duyệt Đề án về chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử đến năm 2025

263/QĐ-TTg

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025

18/2022/QĐ-TTg

Ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại0
  • Tổng lượt truy cập17
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây