






Tái cấu trúc sản phẩm OCOP vùng biển: Từ lượng sang chất
Trong tham luận, ông Nguyễn Quốc Tuấn khẳng định Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức lại sản xuất nông thôn theo hướng hiện đại, phát huy lợi thế bản địa, nâng cao giá trị sản phẩm và từng bước kết nối với thị trường.
Đối với Quảng Trị,một địa phương có đường bờ biển dài, hệ sinh thái đa dạng, nhiều làng nghề truyền thống và tài nguyên du lịch biển phong phú,OCOP vùng biển được xác định là một trong những trụ cột phát triển kinh tế nông thôn. Sau gần một thập kỷ triển khai, toàn tỉnh đã có 349 sản phẩm OCOP được công nhận, trong đó nhóm sản phẩm vùng biển chiếm 54 sản phẩm.
Tuy nhiên, theo ông Tuấn, con số này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Các sản phẩm chủ yếu mới đạt hạng 3 sao, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, thiếu liên kết chuỗi và giá trị gia tăng chưa cao. Đặc biệt, nhiều sản phẩm vẫn dừng lại ở dạng sơ chế, chưa đầu tư chế biến sâu, dẫn đến hạn chế về khả năng cạnh tranh.
Một điểm đáng chú ý được ông nhấn mạnh là sự chuyển biến trong nhận thức của các chủ thể sản xuất. Từ chỗ sản xuất theo kinh nghiệm, bán hàng theo thói quen, nhiều cơ sở đã bắt đầu chú trọng đến tiêu chuẩn hóa, bao bì, truy xuất nguồn gốc và mở rộng kênh phân phối. Tuy vậy, sự chuyển đổi này chưa đồng đều, đặc biệt ở khu vực hộ gia đình, nơi vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số chủ thể OCOP.
Từ thực tiễn đó, ông Tuấn đề xuất cần thay đổi tư duy phát triển: không chạy theo số lượng mà tập trung nâng cao chất lượng. Theo đó, việc rà soát, lựa chọn sản phẩm chủ lực theo chuỗi giá trị là yêu cầu cấp thiết, nhằm tránh tình trạng phát triển dàn trải, thiếu trọng tâm.

Gắn OCOP với du lịch và môi trường: Mở rộng không gian giá trị
Một trong những điểm nhấn quan trọng trong tham luận là định hướng gắn kết sản phẩm OCOP với du lịch biển và bảo vệ môi trường, hai yếu tố được xem là “đòn bẩy kép” cho phát triển bền vững.
Ông Tuấn cho rằng, Quảng Trị không chỉ có sản phẩm mà còn có cảnh quan, văn hóa và đời sống ngư dân,những yếu tố giàu tiềm năng để xây dựng các chuỗi trải nghiệm du lịch. Tuy nhiên, hiện nay việc kết nối giữa sản phẩm OCOP và du lịch vẫn còn rời rạc, thiếu tính hệ thống.
Để khắc phục, ông đề xuất xây dựng các không gian trưng bày và bán sản phẩm OCOP tại các điểm du lịch, bến tàu, khu dịch vụ ven biển; đồng thời phát triển các mô hình du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm gắn với sản xuất. Những hoạt động như tham quan cơ sở chế biến, trải nghiệm làm nước mắm, khám phá ẩm thực làng biển hay tìm hiểu sinh kế ngư dân không chỉ gia tăng giá trị sản phẩm mà còn tạo dấu ấn cho du khách.
Song song với đó, yếu tố môi trường được đặt ở vị trí nền tảng. Trong bối cảnh các tiêu chuẩn về khai thác thủy sản hợp pháp, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường ngày càng khắt khe, sản phẩm OCOP miền biển muốn “đi xa” buộc phải đáp ứng các yêu cầu này. Từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến đều phải hướng tới sản xuất sạch hơn, giảm thiểu rác thải nhựa và bảo vệ hệ sinh thái biển.
Một giải pháp quan trọng khác là tăng cường liên kết giữa các bên: cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và cộng đồng. Đây được xem là “mắt xích” quyết định để nâng cao năng lực sản xuất, hoàn thiện hồ sơ sản phẩm, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường.

Cồn Cỏ – “phòng thí nghiệm” cho OCOP biển đảo chất lượng cao
Dành một phần dung lượng đáng kể, ông Nguyễn Quốc Tuấn phân tích tiềm năng đặc thù của Đặc khu Cồn Cỏ, nơi hiện chưa có sản phẩm OCOP nhưng lại sở hữu những lợi thế khác biệt.
Với hệ sinh thái rừng và biển phong phú, định hướng phát triển du lịch sinh thái và kinh tế biển bền vững, Cồn Cỏ được xem là “vùng trắng” giàu tiềm năng để xây dựng các sản phẩm OCOP mang bản sắc riêng. Không chỉ là sản phẩm hàng hóa, OCOP tại đây có thể tích hợp cả câu chuyện về bảo tồn, trải nghiệm và nhận diện điểm đến.
Đặc biệt, việc nghiên cứu bảo tồn và khai thác bền vững loài hàu răng cưa khổng lồ thông qua các mô hình nuôi và sinh sản nhân tạo mở ra hướng phát triển các sản phẩm đặc trưng gắn với tài nguyên sinh học biển. Đây là lợi thế hiếm có, tạo nền tảng cho các sản phẩm có giá trị cao và tính khác biệt.
Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ tại chỗ cũng đang dần hình thành cùng với sự gia tăng lượng khách du lịch. Với hơn 38.000 lượt khách trong giai đoạn gần đây và mục tiêu đạt 15.000–20.000 lượt khách mỗi năm vào 2030, Cồn Cỏ có đủ điều kiện để phát triển các sản phẩm OCOP phục vụ du khách, đặc biệt là phân khúc quà tặng và đặc sản cao cấp.
Từ những phân tích này, ông Tuấn đề xuất định hướng phát triển OCOP tại Cồn Cỏ theo hướng “ít nhưng tinh”: tập trung vào các sản phẩm chất lượng cao, giá trị cao, có câu chuyện rõ ràng. Các nhóm sản phẩm tiềm năng gồm hải sản chế biến cao cấp, sản phẩm từ rong biển và các nguồn tài nguyên bản địa, cùng với các mô hình nuôi trồng có kiểm soát.
Quan trọng hơn, mỗi sản phẩm cần gắn với một câu chuyện cụ thể, từ câu chuyện đảo tiền tiêu, bảo tồn biển đến sinh kế bền vững của cộng đồng. Khi đó, OCOP không chỉ là hàng hóa mà còn trở thành “đại sứ” truyền tải hình ảnh và giá trị của vùng biển đảo.

Hướng tới một hệ sinh thái OCOP biển bền vững
Khép lại tham luận, ông Nguyễn Quốc Tuấn nhấn mạnh:Sản phẩm OCOP vùng biển không chỉ là kết quả của lao động sản xuất mà còn là công cụ để tái cấu trúc kinh tế nông thôn theo hướng giá trị hơn, xanh hơn và bền vững hơn.
Những đề xuất trong tham luận không chỉ mang tính giải pháp trước mắt mà còn định hình một tầm nhìn dài hạn: xây dựng hệ sinh thái OCOP gắn với chuỗi giá trị, du lịch và môi trường. Trong đó, vai trò của cơ quan quản lý là đồng hành, hỗ trợ; còn chủ thể sản xuất là trung tâm của quá trình đổi mới.
Với cách tiếp cận bài bản, có chiều sâu và sát thực tiễn, tham luận của ông Nguyễn Quốc Tuấn đã góp thêm một tiếng nói quan trọng vào định hướng phát triển kinh tế biển Quảng Trị. Từ những hạt nhân OCOP hôm nay, một diện mạo mới cho vùng biển, nơi sản phẩm không chỉ để bán mà còn kể chuyện, lan tỏa giá trị đang dần hình thành.
Nguồn: nnmt.net.vn (Thu Hương st)
Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026
Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030
Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030
Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030
NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035
Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ
Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025
Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025
Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025
Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

Giá cau tươi ở Đắk Lắk “tuột dốc” chỉ còn 40.000-60.000 đồng/kg, lò sấy, đại lý thu mua có động thái lạ
Quảng Ngãi có 53 loài động vật quý hiếm, gồm 14 loài chim hoang dã được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam
Dự báo ‘nóng’ về cung cầu gạo 2024/25: Sản lượng và nhu cầu đều tăng, cơ hội nào cho gạo Việt?
Xã Nghi Diên (huyện Nghi Lộc) kỷ niệm 70 năm thành lập và đón Bằng công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao
Nuôi hơn 2.000 chim trĩ, nông dân Nghệ An thu trăm triệu mỗi năm
Sự thật loại trứng xanh lè xanh lét siêu độc, lạ, giá gần 1 triệu/quả, được rao bán rầm rộ khắp các chợ
Đàn động vật hoang dã có tên trong sách Đỏ hay ngồi trên cây nhìn xuống ở khu rừng nổi tiếng Gia Lai
Bán lượng gạo khổng lồ, Việt Nam cũng là nhà nhập khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới, mua của ai nhiều nhất?
Nền độc đáo của quần thể Đền – Chùa Gám 