02:05:55 13/03/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao: Cơ hội tái cơ cấu ngành lúa gạo

Là vựa lúa lớn nhất cả nước, mỗi năm An Giang gieo trồng khoảng 1,3 triệu ha lúa, cho sản lượng đạt gần 9 triệu tấn.

Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao: Cơ hội tái cơ cấu ngành lúa gạo
Sản xuất lúa chất lượng cao ứng dụng cơ giới hóa tại vùng chuyên canh lúa của tỉnh An Giang.

Việc tham gia đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”, An Giang kỳ vọng sẽ tạo cú hích quan trọng, giúp ngành lúa gạo địa phương chuyển mạnh sang hướng tăng trưởng xanh, nâng cao giá trị hạt gạo, tăng thu nhập cho nông dân và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Thay đổi tư duy sản xuất

An Giang hiện có trên 600.000 ha đất sản xuất lúa, mỗi năm gieo trồng hơn 1,3 triệu ha, cho sản lượng bình quân đạt khoảng 9 triệu tấn. Tuy nhiên, ngành lúa gạo của tỉnh đang đối mặt với nhiều thách thức. Do biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, chi phí đầu vào tăng cao; liên kết sản xuất, tiêu thụ thiếu bền vững; hiệu quả kinh tế chưa tương xứng và phát thải khí nhà kính lớn.

Trong bối cảnh đó, việc triển khai đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được xem là hướng đi chiến lược, tạo động lực để An Giang tái cơ cấu ngành lúa gạo theo hướng nâng cao giá trị, phát triển bền vững và thân thiện môi trường.

Thực tế triển khai thời gian qua cho thấy, nhiều nông dân An Giang đã mạnh dạn thay đổi tập quán canh tác. Các tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt là máy sạ cụm, được áp dụng rộng rãi, giúp giảm lượng giống gieo sạ, tăng độ đồng đều ruộng lúa và tiết kiệm chi phí sản xuất. Đề án không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn từng bước hình thành phương thức sản xuất lúa hiện đại, bền vững.

Tham gia đề án, ông Nguyễn Hoàng Văn (nông dân xã Bình Mỹ) cho biết, quy trình sản xuất được áp dụng khá nghiêm ngặt như: sạ thưa, giảm phân, giảm thuốc và ghi chép đầy đủ nhật ký sản xuất. Sau nhiều vụ, ruộng lúa phát triển đồng đều, ít sâu bệnh, chi phí giảm nhưng năng suất vẫn đảm bảo, giúp nông dân đạt lợi nhuận cao hơn.

Ông Văn đánh giá, hiệu quả của đề án vượt mong đợi của người nông dân. So với trước đây, chi phí sản xuất mỗi ha lúa đã giảm vài triệu đồng, trong khi giá bán lại cao hơn. Tham gia đề án, nông dân làm lúa vừa nhẹ công, vừa có thu nhập ổn định nên rất phấn khởi.

Tham gia đề án từ ngày đầu tỉnh triển khai, ông Trần Văn Tuấn, nông dân xã Thoại Sơn cho biết, thay đổi lớn nhất trong suy nghĩ của ông là về tư duy sản xuất. Trước đây, ông nghĩ bón nhiều phân, phun nhiều thuốc thì lúa mới trúng mùa. Tuy nhiên, khi canh tác theo quy trình mới, sạ thưa, giảm phân và thuốc nhưng cây lúa phát triển khỏe mạnh, cho năng suất cao, đất ruộng tơi xốp, không còn chai cứng như trước.

“Việc giảm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trên đồng ruộng giúp hạn chế ô nhiễm môi trường. Rơm rạ sau thu hoạch cũng được thu gom thay vì đốt ngoài đồng, góp phần cải thiện chất lượng không khí. Sản xuất lúa trồng theo đề án chất lượng vượt trội. Để nông dân yên tâm sản xuất theo đề án, ngành nông nghiệp và doanh nghiệp cần đồng hành với người dân thông qua việc xây dựng chuỗi giá trị bền vững, bảo đảm đầu ra ổn định với giá bán cao hơn; đồng thời, ngành nông nghiệp cần chuyển giao kỹ thuật canh tác xanh, dễ áp dụng và có giải pháp phát triển sinh kế từ rơm rạ, có chính sách hỗ trợ tài chính cho nông dân…”, ông Tuấn chia sẻ.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, đề án bước đầu đã thay đổi nhận thức và tư duy sản xuất của nông dân. Nông dân từng bước chuyển từ canh tác truyền thống sang sản xuất bền vững, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả kinh tế; trong đó, các giải pháp kỹ thuật như: quản lý nước tiết kiệm, bón phân hợp lý, sử dụng giống chất lượng cao, giảm lượng giống gieo sạ được triển khai đồng bộ, giúp nông dân giảm chi phí, ổn định năng suất và nâng cao lợi nhuận.

Năm 2025, An Giang đã triển khai 55 mô hình trình diễn với diện tích gần 1.500 ha; các địa phương xây dựng thêm 34 mô hình với diện tích gần 514 ha. Hiệu quả các mô hình cho thấy giúp giảm chi phí sản xuất từ 3,3 – 4,1 triệu đồng/ha, tăng năng suất bình quân 0,78 tấn/ha, lợi nhuận tăng thêm 6,1 – 9,35 triệu đồng/ha. Lúa gạo tham gia mô hình có chất lượng đồng đều hơn, dễ tiêu thụ nhờ gắn với doanh nghiệp và chuỗi giá trị. Bên cạnh hiệu quả kinh tế, đề án còn mang lại lợi ích môi trường rõ rệt. Các mô hình canh tác giúp giảm phát thải từ 7,56 – 8,11 tấn CO₂e/ha, giảm sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, từng bước hình thành nền sản xuất lúa thân thiện với môi trường.

Nâng cao giá trị hạt gạo

Năm 2026, An Giang sẽ triển khai 8 mô hình tại 8 xã, với diện tích gần 399 ha, sản xuất liên tục trong 3 vụ lúa Đông Xuân, Hè Thu và Thu Đông. Tỉnh phấn đấu đến năm 2026 sẽ có gần 183.600 ha đạt tiêu chí của Đề án. Định hướng đến năm 2030, An Giang đặt mục tiêu đạt gần 351.400 ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp; trong đó, lượng giống gieo sạ giảm dưới 70 kg/ha; giảm 30% phân bón và thuốc hóa học; giảm 20% lượng nước tưới. 100% rơm rạ được thu gom, tái sử dụng và toàn bộ diện tích có liên kết sản xuất, tiêu thụ.

Ông Trần Thanh Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang đánh giá, việc triển khai đề án trên địa bàn An Giang thời gian qua có nhiều thuận lợi nhờ sự chỉ đạo sát sao của Trung ương và địa phương. Nhờ kinh nghiệm trồng lúa lâu năm của nông dân, cùng với nền tảng từ các mô hình sản xuất hiệu quả như “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm”, SRP và hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu tưới ngập – khô xen kẽ, An Giang có nhiều điều kiện thuận lợi để triển khai đề án.

Theo ông Hiệp, bên cạnh những thuận lợi, việc triển khai đề án trên địa bàn An Giang vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: hạ tầng thủy lợi, giao thông nội đồng chưa đồng bộ ở một số vùng; năng lực liên kết thị trường của hợp tác xã còn hạn chế; chuỗi giá trị rơm rạ chưa hình thành rõ nét; công tác theo dõi, báo cáo phát thải (MRV) còn mới, thiếu nhân lực chuyên môn.

Để đề án đạt hiệu quả, ông Hiệp cho biết, tỉnh sẽ tập trung triển khai hệ thống MRV trên 1.180 ha; đẩy mạnh đầu tư hạ tầng thủy lợi, logistics; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý vùng trồng và truy xuất nguồn gốc; đồng thời, triển khai các gói tín dụng ưu đãi cho nông dân, hợp tác xã và thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến gắn với vùng nguyên liệu.

Với quyết tâm của chính quyền, sự đồng hành của doanh nghiệp và sự chủ động thay đổi tư duy sản xuất của nông dân, đề án đang từng bước khẳng định hiệu quả tại An Giang. Đây không chỉ là giải pháp nâng cao giá trị hạt gạo và thu nhập cho nông dân, mà còn là nền tảng quan trọng để ngành lúa gạo của tỉnh chuyển mạnh sang tăng trưởng xanh, bền vững. Qua đó, góp phần xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam thân thiện với môi trường, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế.

Nguồn tin: baomoi.com (Nguyễn Nhung st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

320/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

319/QĐ-TTg

Phê duyệt Đề án về chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử đến năm 2025

18/2022/QĐ-TTg

Ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại0
  • Tổng lượt truy cập17
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây