06:18:46 16/10/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Đánh thức tiềm năng dược liệu, nâng tầm giá trị sản phẩm OCOP Nghệ An

Với lợi thế về tài nguyên rừng, đa dạng sinh học và nguồn dược liệu phong phú, Nghệ An có nhiều điều kiện để phát triển các sản phẩm OCOP từ dược liệu theo hướng hàng hóa, chế biến sâu và nâng cao giá trị gia tăng. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành lợi thế cạnh tranh, tỉnh cần tháo gỡ những điểm nghẽn về vùng nguyên liệu, công nghệ chế biến, liên kết sản xuất và phát triển thị trường.

Từ lợi thế bản địa đến sản phẩm hàng hóa

Nghệ An là địa phương có tiềm năng lớn về phát triển dược liệu nhờ điều kiện tự nhiên đa dạng, hệ sinh thái rừng phong phú và nguồn tri thức bản địa được tích lũy qua nhiều thế hệ. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành các sản phẩm đặc trưng, góp phần phát triển kinh tế nông thôn, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, nhất là tại các địa bàn miền núi.

Đánh thức tiềm năng dược liệu, nâng tầm giá trị sản phẩm OCOP Nghệ AnCác vùng trông dược liệu ở Nghệ An

Những năm qua, Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ khai thác, cung cấp nguyên liệu thô sang sản xuất, chế biến và thương mại hóa các sản phẩm có nguồn gốc từ dược liệu. Nhiều chủ thể từng bước đầu tư máy móc, cải tiến quy trình sản xuất, hoàn thiện bao bì, nhãn mác và xây dựng thương hiệu, tạo điều kiện đưa sản phẩm địa phương tiếp cận thị trường rộng lớn hơn.

Đến nay, toàn tỉnh Nghệ An có 588 sản phẩm OCOP còn thời hạn, trong đó có 545 sản phẩm 3 sao, 40 sản phẩm 4 sao và 3 sản phẩm 5 sao, với 357 chủ thể có sản phẩm được công nhận. Hơn 300 sản phẩm đã được đưa lên các sàn thương mại điện tử và nền tảng bán hàng trực tuyến; gần 40 sản phẩm OCOP đã có hoạt động xuất khẩu hoặc tiếp cận thị trường nước ngoài. Những kết quả này cho thấy OCOP không chỉ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn mở ra hướng phát triển mới cho kinh tế nông thôn.

Đáng chú ý, nhóm sản phẩm dược liệu và sản phẩm có nguồn nguyên liệu từ dược liệu đang từng bước khẳng định vị trí trong cơ cấu sản phẩm OCOP của tỉnh. Hiện có 165 sản phẩm thuộc nhóm này được chứng nhận OCOP từ 3 sao trở lên, trong đó có 21 sản phẩm 4 sao, chiếm 52,5% tổng số sản phẩm OCOP 4 sao của tỉnh theo số liệu thống kê được cung cấp.

Đánh thức tiềm năng dược liệu, nâng tầm giá trị sản phẩm OCOP Nghệ An

Sản phẩm OCOP của Công ty dược liệu Pù Mát

Kết quả trên cho thấy dược liệu là một trong những nhóm sản phẩm có tiềm năng phát triển theo chiều sâu, tạo ra giá trị gia tăng cao và đóng góp tích cực vào việc khai thác lợi thế bản địa. Nếu được tổ chức sản xuất bài bản, gắn với vùng nguyên liệu ổn định, công nghệ chế biến phù hợp và thị trường tiêu thụ bền vững, các sản phẩm dược liệu có thể trở thành nhóm sản phẩm đặc trưng, góp phần nâng tầm thương hiệu OCOP Nghệ An.

Nhiều tiềm năng nhưng chưa được khai thác tương xứng

Mặc dù đạt được những kết quả bước đầu, phát triển sản phẩm OCOP từ dược liệu ở Nghệ An vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương. Số lượng sản phẩm được chứng nhận từng bước tăng lên, nhưng quy mô sản xuất, mức độ chế biến sâu, ứng dụng khoa học – công nghệ và khả năng mở rộng thị trường vẫn còn những hạn chế.

Trước hết, quy mô sản xuất của phần lớn chủ thể còn nhỏ, trong khi tỉnh chưa hình thành được nhiều doanh nghiệp đủ mạnh để dẫn dắt chuỗi liên kết từ tổ chức vùng nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến phân phối sản phẩm. Chủ thể tham gia chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ sản xuất, kinh doanh, còn hạn chế về nguồn vốn, trình độ công nghệ và năng lực quản trị. Vì vậy, việc đầu tư đồng bộ nhà xưởng, dây chuyền chế biến hiện đại, hệ thống kiểm nghiệm chất lượng và mạng lưới phân phối gặp nhiều khó khăn.

Đây là điểm nghẽn đáng chú ý, bởi sản xuất, chế biến dược liệu đòi hỏi thời gian đầu tư dài, quy trình kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt và năng lực thị trường đủ mạnh. Nếu thiếu doanh nghiệp đầu tàu, việc tổ chức sản xuất theo chuỗi, nâng cao giá trị nguyên liệu và phát triển những sản phẩm có sức cạnh tranh cao sẽ khó đạt hiệu quả như kỳ vọng.

Bên cạnh đó, vùng nguyên liệu dược liệu chưa thực sự ổn định. Ở một số địa phương, việc trồng và thu hái còn phân tán, quy mô nhỏ; liên kết giữa người trồng, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Nguồn nguyên liệu từ các vùng khác nhau có thể chưa đồng nhất về giống, điều kiện canh tác, thời điểm thu hái và chất lượng, gây khó khăn cho quá trình chế biến, chuẩn hóa sản phẩm và duy trì chất lượng ổn định.

Một hạn chế khác là năng lực chế biến sâu và ứng dụng khoa học – công nghệ còn chưa tương xứng với tiềm năng. Dù đã xuất hiện các sản phẩm như cao dược liệu, trà thảo dược, tinh dầu và một số dạng sản phẩm chế biến khác, nhiều cơ sở vẫn chủ yếu dừng ở sơ chế, sấy, nghiền và đóng gói. Các công nghệ chiết xuất, tinh chế, chuẩn hóa thành phần, bảo quản và phát triển sản phẩm mới chưa được ứng dụng rộng rãi. Việc đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất chuyên ngành, nhất là đối với nguyên liệu và sản phẩm phục vụ ngành dược, cũng đặt ra yêu cầu đầu tư lớn hơn về công nghệ, nhân lực và quản lý chất lượng.

Trong khi đó, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường vẫn là khâu cần được quan tâm. Một số sản phẩm có chất lượng nhưng chưa tạo được dấu ấn rõ nét; hoạt động quảng bá còn đơn giản, thiếu chiến lược dài hạn. Việc tiếp cận hệ thống phân phối hiện đại, chuỗi bán lẻ và thị trường ngoài tỉnh chưa tương xứng với khả năng cung ứng. Đối với sản phẩm dược liệu, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc, độ an toàn, chất lượng và căn cứ chứng minh các đặc tính của sản phẩm. Vì vậy, lợi thế về nguyên liệu tự nhiên chỉ thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh khi được bảo đảm bằng quy trình sản xuất minh bạch, tiêu chuẩn rõ ràng và uy tín thương hiệu.

Phát triển chuỗi giá trị, lấy vùng nguyên liệu làm nền tảng

Để phát triển bền vững các sản phẩm OCOP từ dược liệu, Nghệ An cần triển khai đồng bộ các giải pháp, trong đó ưu tiên tổ chức vùng nguyên liệu ổn định, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

Trước hết, cần rà soát, đánh giá tiềm năng từng địa bàn để xác định các vùng trồng dược liệu phù hợp với điều kiện sinh thái, thổ nhưỡng và lợi thế của từng địa phương. Việc lựa chọn cây trồng cần dựa trên cơ sở khoa học, nhu cầu thị trường, khả năng thích nghi và hiệu quả kinh tế, tránh phát triển tự phát hoặc chạy theo phong trào. Cùng với đó, cần chú trọng bảo tồn nguồn gen, phát triển giống có chất lượng, hoàn thiện quy trình canh tác, thu hái, sơ chế và bảo quản; từng bước áp dụng các tiêu chuẩn phù hợp như GACP-WHO hoặc các tiêu chuẩn sản xuất có liên quan.

Quan trọng hơn, vùng nguyên liệu phải được hình thành trên cơ sở liên kết thực chất giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Trong đó, hợp tác xã giữ vai trò tổ chức sản xuất, tập hợp các hộ dân và kiểm soát quy trình; doanh nghiệp tham gia định hướng sản phẩm, chuyển giao công nghệ, đầu tư chế biến và phát triển thị trường. Liên kết cần được cụ thể hóa bằng kế hoạch sản xuất, yêu cầu chất lượng, phương thức thu mua và cơ chế phân chia lợi ích rõ ràng, tạo động lực để người dân gắn bó lâu dài với vùng nguyên liệu.

Song song với phát triển vùng trồng, cần khuyến khích đầu tư chế biến sâu, đổi mới máy móc, thiết bị và công nghệ. Tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp, hợp tác xã với các viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức khoa học – công nghệ để nghiên cứu, hoàn thiện quy trình chiết xuất, bảo quản, chuẩn hóa chất lượng và phát triển sản phẩm mới. Đối với những sản phẩm liên quan đến sức khỏe, việc sản xuất, công bố chất lượng, ghi nhãn và quảng cáo phải tuân thủ đúng quy định pháp luật, bảo đảm tính minh bạch và quyền lợi người tiêu dùng.

Cùng với đó, cần nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm OCOP thông qua hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm, truy xuất nguồn gốc và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Mã QR, nhật ký điện tử và cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu cần được sử dụng như những công cụ hỗ trợ quản lý sản xuất, minh bạch thông tin và tạo niềm tin cho khách hàng, thay vì chỉ dừng ở việc cung cấp thông tin giới thiệu sản phẩm.

Nâng tầm thương hiệu, mở rộng thị trường

Trong bối cảnh thương mại điện tử và kinh tế số phát triển mạnh, các chủ thể OCOP cần chuyển từ tư duy sản xuất những gì mình có sang sản xuất theo nhu cầu thị trường. Mỗi sản phẩm phải xác định rõ nhóm khách hàng, phân khúc giá, lợi thế khác biệt và kênh phân phối phù hợp. Hoạt động xúc tiến thương mại cần được triển khai thường xuyên, gắn với kết nối cung cầu, hội chợ, hệ thống bán lẻ, du lịch và các nền tảng thương mại điện tử.

Đối với nhóm sản phẩm dược liệu, việc xây dựng hình ảnh chung dựa trên các giá trị bản địa, chất lượng, an toàn, thiên nhiên và văn hóa Nghệ An có thể góp phần tăng khả năng nhận diện trên thị trường. Tuy nhiên, thương hiệu chung cần đi đôi với việc nâng cao chất lượng thực chất của từng sản phẩm, phát huy đặc trưng vùng nguyên liệu và câu chuyện của chủ thể sản xuất.

Một hướng đi giàu tiềm năng khác là kết hợp phát triển dược liệu với du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và du lịch nông thôn. Tại khu vực miền Tây Nghệ An, các mô hình trải nghiệm vùng trồng, tìm hiểu cây thuốc bản địa, tham quan quy trình sơ chế, chế biến và mua sắm sản phẩm OCOP có thể tạo thêm giá trị cho cả sản phẩm lẫn điểm đến. Cách làm này không chỉ mở rộng kênh tiêu thụ mà còn góp phần tạo sinh kế, bảo tồn tri thức bản địa và nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Để hiện thực hóa các định hướng trên, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ là yêu cầu quan trọng. Hiện nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang tham mưu xây dựng nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển dược liệu Nghệ An giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2045 và nghị quyết của HĐND tỉnh về chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển dược liệu gắn với du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Đây là cơ sở quan trọng để nghiên cứu lồng ghép các chính sách phát triển vùng nguyên liệu, hỗ trợ chế biến, ứng dụng khoa học – công nghệ, phát triển sản phẩm OCOP và mở rộng thị trường.

Trong quá trình xây dựng và triển khai chính sách, cần ưu tiên nguồn lực cho những sản phẩm có nguồn nguyên liệu đặc hữu, có khả năng phát triển thành sản phẩm chủ lực, nâng hạng OCOP 4–5 sao và mở rộng thị trường. Đồng thời, có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp có tiềm lực, công nghệ và hệ thống phân phối tham gia đầu tư, liên kết với hợp tác xã và người dân. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo về cơ chế, chính sách, hạ tầng, khoa học – công nghệ và xúc tiến thương mại; doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân là lực lượng trực tiếp tổ chức sản xuất, chế biến và phát triển thị trường.

Phát triển sản phẩm OCOP từ dược liệu không đơn thuần là gia tăng số lượng sản phẩm được chứng nhận, mà quan trọng hơn là hình thành chuỗi giá trị có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao, duy trì chất lượng ổn định và mang lại lợi ích thiết thực cho người sản xuất. Khi vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản, công nghệ chế biến được nâng cao, thương hiệu được xây dựng trên nền tảng chất lượng và thị trường được mở rộng, dược liệu sẽ có thêm cơ hội trở thành một trong những nhóm sản phẩm đặc trưng, góp phần thúc đẩy kinh tế nông thôn Nghệ An phát triển theo hướng xanh, bền vững và giàu bản sắc.

Nguồn: Anh Hùng, Chi cục KTHT&PTNT

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

Nghị quyết số 46/2026/QH16

Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035

số 50/2026/QĐ-UBND

Quyết định Quy định áp dụng Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và ban hành tiêu chí xã nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

số 3767/QĐ-UBND

Quyết định Phê duyệt danh sách các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới/nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Nghị quyết số 08/2026/NQ-HĐND

Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Chỉ Thị số 22-CT/TU

về đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Quyết định số 2490/QĐ-UBND

Về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiều quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 -2030 tỉnh Nghệ An

Thông tư Số 23/2026/TT-BNNMT

Thông tư Hướng dẫn thực hiện một số nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Quyết định số: 26/2026/QĐ-TTg

Quyết định ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm Mỗi xã một sản phẩm

số: 19/2026/QĐ-TTg

Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, xã đạt nông thôn mới hiện đại và tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg

Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỉ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030

1451/QĐ-UBND

Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại16
  • Tổng lượt truy cập573
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây