19:45:23 30/04/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Đak Sơmei thay đổi nếp nghĩ, cách làm để giảm nghèo bền vững

Đak Sơmei là xã đặc biệt khó khăn với 8/10 thôn, làng thuộc diện đặc biệt khó khăn. Phát huy truyền thống cách mạng của quê hương Anh hùng Wừu, Đảng bộ xã xác định giảm nghèo phải gắn hỗ trợ sinh kế với nâng cao nhận thức, khơi dậy nội lực.

Cách làm này bước đầu tạo chuyển biến, hướng tới giảm nghèo bền vững.

Đak Sơmeihiện có 2.587 hộ dân với hơn 14.000 nhân khẩu, gần 90% là đồng bào dân tộc thiểu số. Sinh kế chủ yếu của người dân dựa vào nông nghiệp trong điều kiện tự nhiên bất lợi, hạ tầng chưa đồng bộ, khiến hiệu quả sản xuất còn hạn chế. Đến cuối năm 2025, toàn xã còn 423 hộ nghèo (chiếm 16,35%), trong đó 419 hộ là đồng bào dân tộc thiểu số; 601 hộ cận nghèo (chiếm 23,23%).

Từ thực tế này, xã đặt mục tiêu giảm 7,45% hộ nghèo trong năm 2026, tương ứng 193 hộ.

Khơi dậy nội lực, thay đổi từ cách nghĩ đến cách làm

Gia đình anh Huâ (làng Đê Gôh) trước đây sản xuất manh mún với lúa một vụ và trồng mì, thu nhập bấp bênh, nay đã mạnh dạn vay 50 triệu đồng từ Ngân hàng CSXH để đầu tư trồng 300 cây cà phê. Nhằm giúp gia đình anh từng bước đa dạng hóa nguồn thu, cuối năm 2025, địa phương tiếp tục hỗ trợ 2 con bò sinh sản từ chương trình mục tiêu quốc gia.

“Có bò rồi, mình cố gắng chăm sóc cho tốt để bò sinh sản, rồi tận dụng nguồn phân bón cho cây trồng. Mình còn sức khỏe thì phải cố gắng làm,vươn lên thoát nghèo, chứ không thể mãi trông chờ” – anh Huâ bày tỏ.

Đak Sơmei thay đổi nếp nghĩ, cách làm để giảm nghèo bền vững
Anh Huâ vay vốn ngân hàng đầu tư trồng 300 cây cà phê.Ảnh: P.D

Tương tự, khi được hỗ trợ 2 con bò giống sinh sản vào cuối năm ngoái, bà Djem (làng Đê Gôh) – người một mình nuôi mẹ già và 4 con nhỏ – đã có bước chuyển biến quan trọng trong suy nghĩ.

“Ngay khi nhận, một con bò đã cận ngày sinh, con còn lại cũng đang mang thai. Đàn bò không chỉ giúp gia đình tôi có thêm nguồn thu mà còn tiếp thêm niềm tin để vươn lên. Cán bộ xã hướng dẫn mình làm chuồng nuôi nhốt, chủ động chăm sóc và tận dụng nguồn phân giúp gia đình giảm chi phí sản xuất, tạo thêm sinh kế lâu dài” – bà Djem vui mừng chia sẻ.

Ở làng Pral Sơmei, sự thay đổi thể hiện rõ hơn ở cách tổ chức sản xuất. Chị Ngam, từ chỗ được hỗ trợ 2 con bò sinh sản đã đầu tư làm chuồng nuôi nhốt, học cách chế biến phân chuồng đưa vào sản xuất. Với 2 sào cà phê, thay vì thu hoạch xong bán quả tươi như trước, chị chuyển sang phơi khô, xay xát bán nhân để nâng giá trị sản phẩm.

Đồng thời, tận dụng vỏ cà phê ủ với phân bò làm phân hữu cơ. Những điều chỉnh nhỏ nhưng sát thực tế này giúp tăng hiệu quả kinh tế, giảm chi phí và nâng cao tính bền vững.

Từ các mô hình trên cho thấy, khi người dân thay đổi cách nghĩ, chủ động trong cách làm, hiệu quả sản xuất được nâng lên rõ rệt, tạo tiền đề cho giảm nghèo bền vững.

Vai trò dẫn dắt của tổ chức đảng ở cơ sở

Một trong những yếu tố quyết định tạo nên chuyển biến là vai trò hạt nhân lãnh đạo của tổ chức đảng. Làng Đê Gôh có hơn 400 hộ dân với 43 hộ nghèo và 64 hộ cận nghèo, chi bộ đã phân công 11 đảng viên trực tiếp phụ trách, hỗ trợ từng hộ. Nhiều hộ trước đây e ngại vay vốn nay đã mạnh dạn tiếp cận tín dụng, đầu tư chuyển đổi cây trồng, vật nuôi.

“Gần 90% số hộ trong làng đã có sự thay đổi trong sản xuất; riêng năm 2025 vừa rồi giảm được 20 hộ nghèo, năm 2026 phấn đấu giảm thêm 28 hộ” – ông A Điều – Bí thư chi bộ kiêm Trưởng thôn Đê Gôh – chia sẻ.

Đak Sơmei thay đổi nếp nghĩ, cách làm để giảm nghèo bền vững
Sau khi được hỗ trợ 2 con bò giống sinh sản, chị Ngam (giữa) làm chuồng nuôi nhốt, tận dụng nguồn phân để bón cho cây trồng.Ảnh: P.D

Không chỉ ở Đê Gôh, tại làng Pral Sơmei, tinh thần chủ động và đoàn kết trong sản xuất cũng được phát huy. Trong điều kiện không có nguồn nước tự nhiên, người dân đã linh hoạt đào ao, đào giếng, đầu tư hệ thống tưới và cùng nhau chia sẻ nguồn nước.

Anh A Uin – Phó trưởng thôn Pral Sơmei, nói: “Cách làm này không chỉ giải quyết khó khăn về nước tưới sản xuất mà còn củng cố tinh thần đoàn kết, tương trợ trong cộng đồng để bà con chủ động vươn lên”.

Những kết quả bước đầu cho thấy, khi tổ chức đảng bám sát cơ sở, phân công cụ thể, gắn trách nhiệm đến từng đảng viên, các chủ trương, chính sách được triển khai hiệu quả, tạo chuyển biến rõ trong đời sống người dân.

Trong năm 2026, xã dự kiến đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho 90 lao động; triển khai các mô hình sản xuất như trồng cà phê, cà phê xen mắc ca, trồng lúa 2 vụ tại một số làng; hỗ trợ giống cây trồng cho các khu vực còn khó khăn. Đồng thời, đảm bảo 100% hộ nghèo, cận nghèo có nhu cầu được tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi; hạ tầng thiết yếu tiếp tục được quan tâm đầu tư, nâng cấp…

Bí thư Đảng ủy xã Trần Đức Phú nhấn mạnh: Cùng với đó, địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, phân công đảng viên phụ trách từng hộ, từng làng, gắn trách nhiệm của cán bộ, đảng viên với kết quả giảm nghèo. Qua đó, bảo đảm mỗi giải pháp đều được theo dõi, hỗ trợ sát thực tế, tạo điều kiện cho người dân chủ động vươn lên.

Nguồn: baogialai.vn (Đình An st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

số: 19/2026/QĐ-TTg

Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, xã đạt nông thôn mới hiện đại và tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

số 16/2026/QĐ-TTg

Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỉ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030

1451/QĐ-UBND

Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

827/QĐ-BNNMT

Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại129
  • Tổng lượt truy cập148
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây