Đắk Lắkđang là trung tâm sản xuất sầu riêng lớn của cả nước, nhưng địa phương này cũng đang phải đối mặt với những thách thức chưa từng có về chất lượng, môi trường và tính bền vững. Khi thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn, yêu cầu giảm phát thải trở thành điều kiện bắt buộc, ngành hàng sầu riêng buộc phải chuyển từ “tăng trưởng nóng” sang phát triển theo chiều sâu.
Quy mô lớn nhưng còn nhiều điểm nghẽn
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, đến năm 2025, toàn tỉnh có khoảng 44,9 nghìn ha sầu riêng, trong đó hơn 26,4 nghìn ha đã cho thu hoạch, sản lượng đạt khoảng 420 nghìn tấn mỗi năm. Với quy mô này, Đắk Lắk không chỉ là “thủ phủ” sầu riêng của Tây Nguyên mà còn giữ vai trò quan trọng trong bản đồ sầu riêng cả nước.

Toàn tỉnh Đắk Lắk hiện có khoảng 44,9 nghìn ha sầu riêng, trong đó hơn 26,4 nghìn ha đã cho thu hoạch. Ảnh:Trần Thọ.
Bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cho biết, tỉnh có điều kiện khí hậu, đất đai tương đối phù hợp để phát triển cây sầu riêng. Người dân địa phương cũng có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa và từng bước tiếp cận các quy trình canh tác tiên tiến. Bên cạnh đó, hệ thống thu mua, tiêu thụ nông sản trên địa bàn tương đối phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông và xuất khẩu sản phẩm.
Sầu riêng đang trở thành cây trồng có giá trị kinh tế cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nâng cao thu nhập cho người dân tỉnh Đắk Lắk. Nhiều vùng chuyên canh hình thành, gắn với hệ thống thu mua, sơ chế, xuất khẩu ngày càng hoàn thiện.
Tuy nhiên, theo đánh giá của ngành chức năng, sự phát triển nhanh cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Trước hết là tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thiếu liên kết. Không ít nông hộ vẫn canh tác theo kinh nghiệm truyền thống, chưa tuân thủ nghiêm quy trình kỹ thuật, dẫn đến chất lượng sầu riêng không đồng đều.
Một điểm nghẽn đáng chú ý khác là vấn đề kiểm soát chất lượngsầu riêng. Theo đó, việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật một số nơi chưa được kiểm soát chặt chẽ, tiềm ẩn rủi ro về dư lượng, ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu.
Theo bà Đặng Thị Thủy, hiện toàn tỉnh Đắk Lắk có 269 vùng trồng sầu riêng đã được cấp mã số với diện tích khoảng 7,4 nghìn ha, cùng 40 cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu. Ngoài ra, tỉnh đã thiết lập thêm 157 vùng trồng với diện tích khoảng 4.700 ha và 50 cơ sở đóng gói đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ.
Trên lộ trình “xanh hóa”
Bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cho biết, thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục định hướng phát triển ngành hàng sầu riêng theo hướng bền vững, an toàn và nâng cao giá trị gia tăng. Trong đó tập trung tăng cường chuyển giao khoa học kỹ thuật, khuyến khích áp dụng các quy trình sản xuất an toàn, thân thiện với môi trường và từng bước phát triển theo hướng nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn và giảm phát thải.
Định hướng quan trọng được tỉnh đưa ra là thúc đẩynông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn. Điều này không chỉ giúp giảm chi phí đầu vào, bảo vệ môi trường mà còn nâng cao giá trị sản phẩm. Việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, giảm phụ thuộc vào hóa chất đang được khuyến khích triển khai.

Ngành hàng sầu riêng của tỉnh Đắk Lắk những năm qua đã đạt nhiều kết quả nổi bật. Ảnh:Trần Thọ.
Bên cạnh đó, Đắk Lắk cũng sẽ tiếp tục thúc đẩy liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, phát triển chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững ngành hàng sầu riêng của địa phương.
Để phát triển ngành hàng này theo hướng bền vững, hữu cơ, tuần hoàn và giảm phát thải, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk đề xuất một số giải pháp. Trong đó chú trọng xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ nhằm khuyến khích, thu hút các nguồn lực xã hội đầu tư vào nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, phát thải thấp, đồng thời hỗ trợ tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ cho sản phẩm đạt chứng nhận.
Cùng với đó, tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích và hiệu quả của mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, giảm phát thải, từng bước thay đổi tập quán sản xuất truyền thống sử dụng nhiều hóa chất. Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ sinh học và các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất sầu riêng.
Ngoài ra, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk đề xuất giải pháp thu hút doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất và chế biến, đồng thời tranh thủ nguồn hỗ trợ quốc tế nhằm thực hiện các cam kết phát triển nông nghiệp bền vững. Bên cạnh đó, quan tâm đào tạo nguồn nhân lực và tăng cường hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm trong phát triển mô hình nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn và phát thải thấp.
Ở góc độ nông dân, nhu cầu chuyển đổi xanh là có thật nhưng không dễ thực hiện. Nhiều nông hộ cho biết chi phí đầu tư ban đầu cho sản xuất theo tiêu chuẩn cao khá lớn, trong khi rủi ro vẫn hiện hữu. “Nếu có chính sách tín dụng ưu đãi và hướng dẫn kỹ thuật cụ thể, bà con sẽ mạnh dạn hơn trong chuyển đổi”, chị Trần Mai Lan, nông dân trồng sầu riêng tại xã Cư Pơng, tỉnh Đắk Lắk chia sẻ.
Thực tế cho thấy, phát triển sầu riêng bền vững không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà còn là bài toán tổng thể về tổ chức sản xuất, thị trường và chính sách. Khi các mắt xích này được tháo gỡ đồng bộ, ngành hàng sầu riêng Đắk Lắk mới có thể phát triển theo chiều sâu, đáp ứng yêu cầu phát thải thấp và hội nhập quốc tế.



















