01:04:49 06/03/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Công nghệ số mở lối tiêu thụ nông sản

Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường về chất lượng và minh bạch thông tin, nông nghiệp Thái Nguyên lựa chọn công nghệ làm “chìa khóa” mở rộng đầu ra. Mã số vùng trồng, mã QR truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử đang góp phần nâng cao giá trị, khẳng định vị thế nông sản địa phương.
Công nghệ số mở lối tiêu thụ nông sản
Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường về chất lượng sản phẩm và minh bạch thông tin, ngành nông nghiệp Thái Nguyên lựa chọn công nghệ làm “chìa khóa” mở rộng đầu ra.Trong ảnh:Mô hình sản xuất chè sạch, theo tiêu chuẩn hữu cơ góp phần nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm. Ảnh: T.L

Tái cấu trúc sản xuất theo chuỗi giá trị

Từ các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng như chè, cây ăn quả, lúa, rau màu đến chăn nuôi và lâm nghiệp, Thái Nguyên đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc nông nghiệp với khoa học – công nghệ và chuyển đổi số giữ vai trò trụ cột. Nông nghiệp dần chuyển từ tư duy chú trọng sản lượng sang tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị hiện đại, trong đó công nghệ dẫn dắt xuyên suốt quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ.

Triển khai Đề án phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 và Nghị quyết số 10-NQ/TU, tỉnh đẩy mạnh số hóa dữ liệu, tổ chức lại sản xuất gắn với nhu cầu thị trường. Toàn tỉnh hiện có 804 hợp tác xã (HTX), trong đó 625 HTX nông nghiệp; gần 70% hoạt động hiệu quả, 37,6% ứng dụng công nghệ cao và hơn 70% tham gia liên kết chuỗi giá trị, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Công nghệ số mở lối tiêu thụ nông sản
Sản phẩm gà đồi ở xã Tân Khánh được hỗ trợ quảng bá, tiêu thụ trên nền tảng số.

Chuyển đổi số cũng thúc đẩy tiêu chuẩn hóa sản xuất. Hiện nay, trên 8.100ha cây trồng đạt tiêu chuẩn VietGAP, riêng diện tích chè đạt trên 6.440ha. Năm 2025, tỉnh cấp mới chứng nhận VietGAP cho 44 cơ sở trồng chè và 26 cơ sở chăn nuôi, góp phần nâng cao uy tín nông sản Thái Nguyên trên thị trường.

Theo ông Bùi Phương Thảo, Phó Chủ tịch UBND xã Vô Tranh, với trên 2.500ha chè, sản lượng đạt trên 30.000 tấn/năm, địa phương xác định phát triển chè theo hướng xuất khẩu là định hướng lâu dài. Xã tập trung chế biến sâu, xây dựng vùng nguyên liệu đạt VietGAP, hướng hữu cơ, tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, đồng thời đẩy mạnh liên kết với doanh nghiệp, HTX để từng bước đưa chè Vô Tranh tiếp cận thị trường quốc tế.

Ở góc độ HTX, anh Đỗ Văn Thao, đại diện HTX nông nghiệp Phú Thịnh (xã Phú Đình), cho biết: HTX hiện có 19 thành viên, liên kết 26 hộ, canh tác 10ha chè với sản phẩm chủ lực là chè móc câu. Chúng tôi tổ chức sản xuất theo quy trình VietGAP, sử dụng phân hữu cơ, kiểm soát nguồn nước tưới và an toàn thực phẩm. Thời gian tới, HTX dự kiến mở rộng diện tích lên 45ha, hình thành vùng nguyên liệu ổn định, tạo nền tảng hướng tới xuất khẩu, trong đó có thị trường Hàn Quốc.

Công nghệ số mở lối tiêu thụ nông sản
Dàn tưới tự động tiết kiệm nước được ứng dụng tại nhiều vùng chè trong tỉnh, góp phần giảm sức lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất. Ảnh: T.L

Cùng với tiêu chuẩn hóa sản xuất, Thái Nguyên đang quản lý 151 mã số vùng trồng, trong đó chè chiếm 106 mã với diện tích trên 871ha, sản lượng gần 11.000 tấn. Các vùng sản xuất đều được giám sát chặt chẽ về quy trình, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.

Trong tiến trình chuyển đổi số, mã QR truy xuất nguồn gốc được xem là “giấy thông hành” giúp nông sản Thái Nguyên gia nhập hệ thống phân phối hiện đại, gia tăng giá trị và khẳng định thương hiệu. Theo bà Lê Thị Hương, Giám đốc HTX BK Food, việc số hóa thông tin và tham gia thương mại điện tử giúp sản phẩm tăng độ tin cậy, mở rộng thị trường và tạo dư địa tăng trưởng bền vững.

Song song với đó, tỉnh tăng cường xây dựng hàng rào kỹ thuật bảo vệ uy tín nông sản. Năm 2025, các cơ quan chức năng đã kiểm tra 140 cơ sở, lấy 226 mẫu; duy trì phòng thử nghiệm đạt chuẩn ISO/IEC 17025:2017 và vận hành nền tảng số phục vụ quản lý chất lượng.

Công nghệ số mở lối tiêu thụ nông sản
Người tiêu dùng có thể dễ dàng tìm mua các sản phẩm đặc trưng của Thái Nguyên trên sàn Shopee chỉ với vài thao tác đơn giản trên điện thoại hoặc máy tính. Ảnh: T.L

Sản xuất nông nghiệp gắn với thị trường

Thị trường nông sản Thái Nguyên đang được định hình lại bằng công nghệ. Chuyển đổi số trở thành động lực tổ chức lại sản xuất, phân phối và tiêu thụ theo logic của kinh tế thị trường hiện đại. Việc tỉnh tiên phong xây dựng gian hàng nông sản chung trên sàn thương mại điện tử thể hiện rõ sự chuyển dịch từ tư duy “làm nông nghiệp” sang “làm kinh tế nông nghiệp”, với thị trường làm thước đo và công nghệ là đòn bẩy gia tăng giá trị.

Từ định hướng đó, một hệ sinh thái số từng bước được hình thành và vận hành đồng bộ, gồm: Website ngành Công Thương, sàn thương mại điện tử của tỉnh, hệ thống truy xuất nguồn gốc bằng mã QR, các gian hàng “Sản phẩm Thái Nguyên”, “Bản Việt – Thái Nguyên trên những nền tảng lớn, cùng chuỗi chương trình livestream như “Chợ phiên OCOP Thái Nguyên 2025”… Không gian tiêu thụ được mở rộng theo hướng kết nối trực tiếp, minh bạch và bền vững giữa người sản xuất và người tiêu dùng.

Công nghệ số mở lối tiêu thụ nông sản
Viettel Post Thái Nguyên đồng hành cùng người dân đẩy mạnh quảng bá, tiêu thụ nông sản, sản phẩm OCOP trên nền tảng số. Ảnh: T.L

Ông Nguyễn Huy Hoàng, Phó Giám đốc Sở Công Thương, thông tin: Các phiên chợ phiên số và chương trình livestream bán hàng đã tạo sức lan tỏa mạnh mẽ cho nông sản địa phương. Tiêu biểu, chương trình “Cây na số và nông sản Thái Nguyên” tổ chức tại các xã Võ Nhai, La Hiên đã tiếp cận hơn 10 triệu lượt người, chốt gần 1.500 đơn hàng trong 5 giờ phát sóng; phiên livestream xúc tiến gà đồi Tân Khánh ghi nhận khoảng 12.000 lượt tương tác.

Những kết quả này cho thấy thương mại điện tử đang trở thành kênh kết nối hiệu quả, rút ngắn khoảng cách giữa vùng sản xuất và thị trường tiêu dùng.

Giá trị gia tăng từ đổi mới cách làm

Chuyển đổi số mang lại những kết quả rõ rệt. Trên địa bàn tỉnh hiện có gần 190.000 hộ, doanh nghiệp, HTX tham gia các nền tảng số; hơn 1.800 sản phẩm nông sản, OCOP được giao dịch trực tuyến. Nhiều chủ thể OCOP ghi nhận doanh thu tăng từ 20-50%, trong đó kênh số đóng góp khoảng 30%, khẳng định kinh tế số là động lực tăng trưởng mới của nông nghiệp Thái Nguyên.

Thực tiễn tại cơ sở cho thấy hiệu quả rõ nét của ứng dụng công nghệ. Theo chị Lý Thị Quyên, Giám đốc HTX Thiên An (xã Phủ Thông), 9 sản phẩm OCOP của HTX đã được kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử lớn, đồng thời áp dụng phần mềm quản lý hàng hóa và kết nối dịch vụ logistics hiện đại. Nhờ đó, doanh thu năm 2025 đạt trên 3 tỷ đồng, tăng gấp nhiều lần so với thời điểm chưa ứng dụng công nghệ.

Công nghệ số mở lối tiêu thụ nông sản
Mô hình trồng quýt theo tiêu chuẩn hữu cơ của gia đình ông Đỗ Văn Luân, ở thôn Nà Mèo (xã Phúc Lộc) mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Quan trọng hơn, công nghệ góp phần nâng tầm thương hiệu nông sản Thái Nguyên. Toàn tỉnh hiện có 598 sản phẩm đạt OCOP từ 3-5 sao, trong đó có 10 sản phẩm 5 sao; giá trị kinh tế tăng bình quân trên 20% sau khi được công nhận. Việc 100% doanh nghiệp, HTX có sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên tham gia nền tảng số cho thấy chuyển đổi số đã đi vào chiều sâu, trở thành động lực then chốt của nông nghiệp hiện đại và hội nhập.

Thực hiện Kế hoạch số 36-KH/TU năm 2026, Thái Nguyên xác định khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại. Tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng nông, lâm, thủy sản đạt 4%; thu nhập bình quân 126 triệu đồng/ha; sản lượng lương thực trên 590 nghìn tấn; chè búp tươi trên 277 nghìn tấn; giá trị cây chè đạt hơn 16,8 nghìn tỷ đồng.

Trên nền tảng đó, Thái Nguyên tiếp tục phát triển chương trình OCOP theo chiều sâu, gắn với công nghệ và chuyển đổi số; phấn đấu bổ sung ít nhất 20 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên, mở rộng sản xuất theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ, cấp mã số vùng trồng, xây dựng vùng nguyên liệu và chuỗi giá trị, qua đó mở rộng thị trường, nâng tầm thương hiệu nông sản địa phương.

Toàn tỉnh hiện có 804 HTX (trong đó có 625 HTX nông nghiệp); trên 8.100ha cây trồng đạt tiêu chuẩn VietGAP, riêng chè là trên 6.440ha; 151 mã số vùng trồng. Trên 1.800 sản phẩm giao dịch trực tuyến; 598 sản phẩm OCOP đạt từ 3-5 sao, giá trị tăng trên 20% sau khi được công nhận.
Nguồn: baothainguyen.vn (Minh Hiền st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

320/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

319/QĐ-TTg

Phê duyệt Đề án về chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử đến năm 2025

263/QĐ-TTg

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025

18/2022/QĐ-TTg

Ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại0
  • Tổng lượt truy cập17
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây