13:21:28 09/02/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Chuyển đổi số mở hướng giảm nghèo bền vững tại Ninh Bình

Gắn giảm nghèo đa chiều với chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ, Ninh Bình đang từng bước hình thành cách tiếp cận mới: quản trị dựa trên dữ liệu, phát triển sinh kế thông minh và mở rộng thị trường số. Thực tiễn cho thấy công nghệ đang trở thành đòn bẩy quan trọng để nâng cao chất lượng giảm nghèo và phát triển bao trùm.
Chuyển đổi số mở hướng giảm nghèo bền vững tại Ninh Bình
Hướng dẫn sử dụng các nền tảng, dịch vụ số và lớp học số cho cộng đồng dân cư tại các xã, phường trên địa bàn tỉnh.

Thực tiễn triển khai tại Ninh Bình cho thấy chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở hiện đại hóa nền hành chính mà đang từng bước lan tỏa sang các lĩnh vực an sinh xã hội và phát triển sinh kế cho người dân.

CHUYỂN ĐỔI SỐ TỪ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH ĐẾN TẠO SINH KẾ

Sau hơn 6 tháng triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhiều địa phương đã ghi nhận sự thay đổi rõ nét trong phương thức quản lý và cung cấp dịch vụ công, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân tiếp cận chính sách hỗ trợ giảm nghèo.

Tại phường Thành Nam, tỷ lệ cài đặt ứng dụng công dân số và định danh điện tử VNeID đạt trên 99%, phản ánh mức độ tiếp cận môi trường số ngày càng sâu rộng. Thông qua các nền tảng số, người dân chủ động thực hiện nhiều dịch vụ thiết yếu như xác nhận thông tin cư trú, đăng ký hộ tịch, khai báo y tế, nộp hồ sơ hành chính trực tuyến. Việc rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí đi lại và hạn chế thủ tục trung gian không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn góp phần giảm gánh nặng chi phí cho các hộ thu nhập thấp.

Đáng chú ý, chuyển đổi số tại cơ sở được gắn trực tiếp với công tác quản lý hộ nghèo, cận nghèo. Việc ứng dụng dữ liệu số trong rà soát, cập nhật thông tin giúp bảo đảm tính chính xác, minh bạch, làm cơ sở xây dựng và triển khai chính sách hỗ trợ đúng đối tượng, đúng nhu cầu. Trên nền tảng dữ liệu thống nhất, các chương trình hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề và kết nối việc làm được triển khai đồng bộ hơn, hạn chế tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót đối tượng thụ hưởng.

Không chỉ ở khu vực đô thị, chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ đang từng bước thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp tại nhiều địa bàn nông thôn. Tại xã Nho Quan, từ thực tế canh tác lúa và rau màu truyền thống với năng suất thấp, thu nhập bấp bênh, địa phương đã chủ động định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng gắn với áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao giá trị trên cùng đơn vị diện tích.

Việc tổ chức lại sản xuất theo mô hình hợp tác xã, kết hợp ứng dụng khoa học, công nghệ và xây dựng thương hiệu đã tạo chuyển biến rõ nét. Trường hợp Hợp tác xã Nông nghiệp Đồng Phong cho thấy hiệu quả của cách làm này khi nhiều diện tích lúa kém hiệu quả được chuyển sang trồng ổi theo quy trình kỹ thuật mới. Sản phẩm được chuẩn hóa quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc, xây dựng nhãn hiệu và đạt chứng nhận OCOP 3 sao, qua đó mở rộng thị trường tiêu thụ và giảm rủi ro “được mùa mất giá”. Thu nhập ổn định hơn đã tạo nền tảng để người dân yên tâm sản xuất, từng bước cải thiện đời sống và thoát nghèo bền vững.

GIẢM NGHÈO ĐA CHIỀU GẮN VỚI THỊ TRƯỜNG SỐ VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ

Trong tiến trình giảm nghèo đa chiều, Ninh Bình xác định chuyển đổi số không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà là công cụ hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo và các nhóm yếu thế. Việc tiếp cận công nghệ số giúp nhiều hộ dân mạnh dạn ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản, qua đó nâng cao năng suất, chất lượng và giảm chi phí sản xuất.

Cùng với đó, các nền tảng số, đặc biệt là sàn thương mại điện tử, đã mở rộng không gian tiêu thụ cho nông sản và sản phẩm đặc trưng của địa phương. Nhiều sản phẩm được giới thiệu, quảng bá bài bản, minh bạch về nguồn gốc và quy trình sản xuất, tiếp cận thị trường trong và ngoài tỉnh. Việc tham gia chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ giúp không ít hộ nghèo, cận nghèo có thêm việc làm, tăng thu nhập và từng bước cải thiện chất lượng sống.

Song song với phát triển sinh kế, tỉnh chú trọng số hóa công tác quản lý hộ nghèo, cận nghèo theo hướng đồng bộ và thống nhất. Cơ sở dữ liệu được cập nhật thường xuyên giúp việc xác định đối tượng thụ hưởng chính xác, hạn chế trùng lặp hoặc bỏ sót. Người dân được hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến, y tế số, giáo dục trực tuyến, góp phần giảm chi phí sinh hoạt, nhất là đối với người cao tuổi, người khuyết tật và các hộ khó khăn.

Giảm nghèo cũng được gắn với các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất một cách bài bản. Nhiều hộ nghèo, cận nghèo được tạo điều kiện vay vốn ưu đãi, tham gia đào tạo nghề, tập huấn kỹ thuật và kết nối với hợp tác xã, doanh nghiệp để tham gia chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Việc xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm OCOP và mở rộng kênh tiêu thụ qua thương mại điện tử đã góp phần nâng cao giá trị nông sản, tạo thu nhập ổn định và lâu dài cho người dân.

Để tạo dư địa phát triển bền vững, Ninh Bình đẩy mạnh hoàn thiện thể chế và thúc đẩy chuyển đổi số trên phạm vi toàn tỉnh. Việc thành lập Ban Chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từ cấp tỉnh đến 129 xã, phường; cùng với rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính đã tạo nền tảng cho kinh tế số phát triển. Đến nay, toàn tỉnh có hơn 2.100 dịch vụ công trực tuyến, trong đó trên 64% là dịch vụ công trực tuyến toàn trình; hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến được triển khai đồng bộ, bảo đảm kết nối thông suốt từ Trung ương đến cơ sở.

Trong lĩnh vực kinh tế số, tỉnh tập trung phát triển nguồn nhân lực khoa học – công nghệ, mở rộng ứng dụng số trong các ngành, lĩnh vực và đưa sản phẩm, dịch vụ lên nền tảng số để tiếp cận thị trường rộng lớn hơn. Kinh tế số từng bước gia tăng tỷ trọng trong GRDP, tạo thêm việc làm và cơ hội sinh kế mới cho người dân.

Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của Ninh Bình đã giảm xuống còn 0,9%, thấp hơn mức bình quân cả nước. Kết quả này phản ánh hiệu quả của việc gắn chuyển đổi số với giảm nghèo, trong đó khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò mở đường cho phát triển bao trùm, bền vững và nâng cao chất lượng sống của người dân trên địa bàn tỉnh.

Nguồn: vneconomy.vn (Đặng Hòa st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

320/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

319/QĐ-TTg

Phê duyệt Đề án về chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử đến năm 2025

263/QĐ-TTg

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025

18/2022/QĐ-TTg

Ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại0
  • Tổng lượt truy cập17
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây