Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Canh tác chanh dây bền vững: Kinh nghiệm Đài Loan

Tham luận về kinh nghiệm phát triển chanh dây của Chia Chih Chang, Hsuan Chin Lan, Chien Chih Kuo, Trạm nghiên cứu nông nghiệp và khuyến nông Đài Nông (Đài Loan).

Ngày 2-3/7/2024, tại Gia Lai, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) phối hợp với Trung tâm Công nghệ thực phẩm và phân bón châu Á – Thái Bình Dương (FFTC-ASPAC) tổ chức hội thảo quốc tế “Tăng cường quản lý chất lượng cho chuỗi giá trị chanh dây ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương”. Nhiều tham luận quan trọng về phát triển chanh dây của khu vực đã được trình bày, hỏi đáp tại hội thảo. BáoNNVNdịch, biên soạn, trân trọng giới thiệu tới bạn đọc.

Ba giống chanh dây chủ lực ở Đài Loan

Diện tích chanh dây của Đài Loan năm 2023 là 954,6ha. Canh tác chanh dây ở khu vực có khí hậu cận nhiệt đới đòi hỏi sự đổi mới trong sản xuất để đảm bảo chất lượng và năng suất cao.

Giống cây chính Tainong No.1 (Đài Nông số 1), được phát triển bởi Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Đài Loan (TARI), là một trong những lựa chọn hàng đầu. Với mùi thơm đặc trưng và hàm lượng đường khoảng 15-19° brix, giống này thích hợp cho cả chế biến tươi và chế biến nước ép, và có thể trồng ở vùng có độ cao từ mực nước biển lên đến 600m. Năng suất của Tainong No.1 khá cao, đạt khoảng 20 tấn/ha, đáp ứng nhu cầu sản xuất lớn và đa dạng hóa sản phẩm.

Ngoài Tainong No.1, các giống Full Stars và Golden cũng được ưa chuộng trong canh tác chanh dây tại Đài Loan. Full Stars với quả lớn hơn (80-120g) và vỏ dày hơn so với Tainong No.1, cùng với độ ngọt và độ axit thấp, là sự lựa chọn phù hợp với điều kiện khí hậu và yêu cầu thị trường. Trong khi đó, Golden có vị đậm và độ axit thấp, cũng phù hợp cho sản xuất nước ép chanh dây và được ưa chuộng nhờ vào quả lớn và vỏ dày.

Ba giống chanh dây phổ biến ở Đài Loan.

Tuy nhiên, ngành sản xuất chanh dây ở Đài Loan không thiếu những thách thức. Một trong số đó là vấn đề nhiễm virus, đặc biệt là Virus Passiflora Đông Á (EAPV), gây ra hiện tượng hóa bần hoặc biến dạng vỏ quả. Điều này không chỉ làm giảm năng suất mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá trị thương phẩm của sản phẩm chanh dây Đài Loan.

Để giải quyết vấn đề này, các nhà nghiên cứu và nhà sản xuất cần phối hợp chặt chẽ để áp dụng các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả. Sự phát triển bền vững của ngành sản xuất chanh dây ở Đài Loan không chỉ phụ thuộc vào việc áp dụng công nghệ mới mà còn dựa vào sự chăm sóc kỹ lưỡng và quản lý hiệu quả các yếu tố tác động từ môi trường và bệnh dịch.

Quản lý nhiễm virus và kỹ thuật canh tác cải tiến

Để giải quyết các thách thức trong canh tác chanh dây ở Đài Loan, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra một số giải pháp khoa học.

Giải pháp cây giống (ghép) không nhiễm viruskhông chỉ giúp đảm bảo sự khỏe mạnh của cây mẹ mà còn giảm thiểu rủi ro lây nhiễm virus cho cây trồng. Việc sử dụng các giống ghép có chất lượng cao và được kiểm định sẽ nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm cuối cùng.

Bên cạnh đó, để đối phó với các bệnh do virus gây ra, việckiểm soát và quản lý dịch bệnhlà cực kỳ quan trọng. Các biện pháp phòng ngừa và điều trị sớm sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại và bảo vệ sự phát triển của cây trồng. Đảm bảo thu hoạch trái đúng độ chín, chất lượng cao là mục tiêu cần đạt được.

Thay đồng loạt cây mới hàng năm,bao lưới bảo vệ cây conlà giải pháp để đối phó với các bệnh lây nhiễm. Việc này nên được thực hiện vào cuối mùa đông, khi mật độ sâu bệnh thấp nhất, để đảm bảo cây mới có thể phát triển mạnh mẽ và không bị ảnh hưởng bởi virus từ cây cũ.

Trồng chanh dây tại Đài Loan giai đoạn kiến thiết cơ bản cần mắc màn cho cây giống nhằm hạn chế bệnh do virus tấn công. Ảnh:Hồ Huy Cường.

Ngoài ra, việcloại bỏ các loài cây dạihọ Passiflora như Lạc tiên (Passiflora suberosa) và Chum bao (Passiflora foetida) cũng là một biện pháp cần thiết để ngăn chặn sự lây lan của bệnh dịch và virus. Đây là một phần của chiến lược kiểm soát bệnh tật và bảo vệ cây trồng chính.

Những giải pháp trên sẽ giúp ngành sản xuất chanh dây ở Đài Loan đạt được sự bền vững và phát triển, đồng thời đảm bảo năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc áp dụng chặt chẽ các biện pháp này cũng mang lại lợi ích kinh tế cao hơn cho các nông dân và người tham gia vào ngành này.

Các nhà nghiên cứu cũng đề cập tới biện pháp mới nhằmmở rộng cửa sổ sản xuất cho ngành công nghiệp chanh dây của Đài Loan. Cụ thể, người trồng cây ở miền Nam Đài Loan được hướng dẫn sử dụng công nghệ chiếu sáng nhân tạo thay thế cho ánh sáng mặt trời. Điều này đã cho phép chanh dây được trồng quanh năm thay vì chỉ trong mùa vụ như trước đây.

Kết quả của việc áp dụng công nghệ này là đã mở ra một thời kỳ sản xuất mới cho người trồng cây ở phía Nam Đài Loan, kéo dài từ tháng 2 đến tháng 6. Hiện tại, khoảng 100 ha cây chanh dây mùa xuân đã được trồng tại Cao Hùng và Bình Đông, với dự kiến sản lượng hàng năm là 2.000 tấn.

Kỹ thuật canh tác trái vụ nhằm mở rộng thời vụ sản xuất cho ngành công nghiệp chanh dây của Đài Loan.

Tác nhân vi sinh vật và phân bón hỗ trợ quản lý dịch bệnh

Đểquản lý dịch bệnhvà nâng cao năng suất, các nhà nghiên cứu và người trồng chanh dây tại Đài Loan đã áp dụng các biện pháp bền vững như quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và sử dụng vật liệu hữu cơ để giảm thiểu việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học. Việc áp dụng vi sinh vật có ích cũng được coi là một trong những chiến lược quan trọng, giúp nâng cao năng suất và chất lượng chanh dây.

Vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý các bệnh đối với cây trồng chanh dây tại Đài Loan. Chủng vi khuẩn Bacillus amyloliquefaciens (Tcba05) đã được sử dụng hiệu quả để kiểm soát các bệnh như bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides) và bệnh đốm nâu (Alternaria sp.). Đây là các bệnh thường gặp ảnh hưởng đến lá và quả của cây chanh dây, khiến chúng xuất hiện các vết bệnh như chấm nâu lan rộng trên lá và quả.

Kỹ thuật thu quả chín cây tự rụng bằng lưới đỡ quả.

Việc phun chủng Tcba05 hàng tuần từ tháng 7 đến tháng 10 đã giúp giảm tỷ lệ bệnh xuất hiện, không khác biệt đáng kể so với sử dụng thuốc diệt nấm Azoxystrobin (23%). Điều này cho thấy hiệu quả của vi sinh vật trong việc kiểm soát dịch bệnh không thua kém so với các phương pháp hóa học truyền thống.

Ngoài ra, việc sử dụng phân bón vi sinh chứa Trichoderma spp. cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện khả năng kháng bệnh thối thân và cung cấp dinh dưỡng cho đất, từ đó tăng năng suất và chất lượng cây trồng. Nấm đối kháng Trichoderma spp. không chỉ phân hủy phân rác và chất hữu cơ, giải phóng chất dinh dưỡng mà còn hỗ trợ cho quá trình sinh trưởng của cây.

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc phun Trichoderma spp. qua lá và tưới vào đất với các nồng độ từ 0,33% đến 2% đã mang lại kết quả tích cực. Đặc biệt, phun kết hợp qua lá và tưới vào đất với nồng độ 1% đã giúp tăng năng suất từ 31% đến 39%, đồng thời không gây ra sự khác biệt đáng kể về chiều dài, chiều rộng và số lượng lá của cây.

Tổng hợp lại, việc áp dụng các biện pháp bảo vệ thực vật bằng vi sinh vật và phân bón hữu cơ không chỉ giúp cải thiện năng suất mà còn tăng cường khả năng đề kháng của cây trồng, đảm bảo sự bền vững và hiệu quả trong sản xuất chanh leo tại Đài Loan.

Quỳnh Chi

 

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

Một loại rau mọc trên đá với cái tên đầy lạ lẫm, đã trở thành đặc sản quý hiếm ở Nghệ An

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

320/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

319/QĐ-TTg

Phê duyệt Đề án về chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử đến năm 2025

263/QĐ-TTg

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025

18/2022/QĐ-TTg

Ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025

24/2020/NQ-HĐND

Về một số chính sách hỗ trợ trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2021 – 2025

211/QĐ-TTg

Sửa đổi một số tiêu chí, chỉ tiêu của Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới, Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao, Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025; bổ sung tiêu chí huyện nông thôn mới đặc thù, không có đơn vị hành chính cấp xã giai đoạn 2021 – 2025

Số 05/2014/TT-BVHTTDL

Giới thiệu mô hình hay và đề xuất sáng kiến triển khai hiệu quả Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới

Số 05/2014/TT-BVHTTDL

Thông tư của Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch Về sữa đổi, bổ sung tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa, thể thao xã và thôn


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại0
  • Tổng lượt truy cập2
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây