11:37:40 14/07/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Các làng nghề truyền thống tìm đầu ra qua kênh số

Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, việc tìm đầu ra qua kênh trực tuyến không còn là lựa chọn mang tính thử nghiệm mà đang trở thành hướng đi tất yếu đối với nhiều làng nghề truyền thống tại Thanh Hóa. Nếu trước đây sản phẩm chủ yếu tiêu thụ qua thương lái, phụ thuộc thị trường địa phương, thì nay, cùng với sự hỗ trợ của chính quyền và sự chủ động của người sản xuất, nhiều cơ sở đã mạnh dạn “lên sàn”, từng bước xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.

Thanh Hóa hiện có hàng trăm làng nghề, hoạt động trong các lĩnh vực chế biến thực phẩm, thủ công mỹ nghệ, dệt cói, sản xuất nước mắm, mắm tôm… Tuy nhiên, phần lớn cơ sở sản xuất quy mô hộ gia đình, hạn chế về năng lực marketing, chưa có chiến lược xây dựng thương hiệu dài hạn. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng lớn, việc tận dụng kênh số đã mở ra cơ hội tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng, gia tăng giá trị sản phẩm thay vì chỉ bán buôn qua trung gian.

Một trong những mô hình tiêu biểu là làng nghề nước mắm Khúc Phụ, xã Hoằng Thanh. Tại đây, Công ty TNHH Thực phẩm và Thương mại Lê Gia đã đầu tư bài bản cho chuyển đổi số, từ xây dựng website riêng, fanpage, đến tham gia các sàn thương mại điện tử lớn. Đại diện doanh nghiệp, ông Lê Anh cho biết, khi tham gia kênh online, đơn vị không chỉ đưa sản phẩm lên bán mà còn chú trọng kể câu chuyện về quy trình ủ chượp truyền thống, vùng nguyên liệu và giá trị văn hóa của làng nghề. Hiện doanh thu từ kênh trực tuyến chiếm khoảng 30 – 40% tổng doanh số; vào dịp cao điểm có thể tăng lên gần 50%. Việc bán trực tiếp tới người tiêu dùng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về giá, đồng thời thương hiệu được nhận diện rộng rãi tại nhiều tỉnh, thành lớn.

Nếu như nước mắm Khúc Phụ cho thấy hiệu quả từ cách làm bài bản của doanh nghiệp, thì tại làng nghề mắm truyền thống ở thôn Minh Thọ, xã Minh Lộc nay là xã Vạn Lộc lại thể hiện rõ vai trò của thế hệ kế cận trong hành trình chuyển đổi số.

Hơn 30 năm gắn bó với nghề, ông Vũ Duy Náo duy trì cơ sở sản xuất với sản lượng hằng năm đạt 110 – 120 tấn mắm tôm và 15 – 20 nghìn lít nước mắm, tạo việc làm thường xuyên cho 6 – 7 lao động cùng hàng chục lao động thời vụ. Tuy nhiên, trước đây sản phẩm chủ yếu tiêu thụ trong tỉnh và qua mối buôn quen thuộc. Bước ngoặt đến khi anh Vũ Văn Thiện – con trai ông, sau khi tốt nghiệp đại học đã quyết định trở về quê nối nghiệp. Tháng 10/2022, anh thành lập Công ty CP Sản xuất truyền thống mắm Ông Náo, đồng thời xây dựng thương hiệu nước mắm, mắm tôm “Ông Náo” đạt OCOP 3 sao cấp tỉnh.

Thay vì chỉ giữ cách bán truyền thống, anh Thiện tập trung chuẩn hóa quy trình sản xuất, đầu tư bao bì, nhãn mác, thiết kế logo và tích hợp mã QR truy xuất nguồn gốc. Sản phẩm được đưa lên sàn thương mại điện tử, quảng bá qua mạng xã hội và các kênh bán hàng trực tuyến. Nhờ đó, ngoài thị trường trong tỉnh, mắm “Ông Náo” đã tiếp cận khách hàng tại Hà Nội, Bình Dương, TP Hồ Chí Minh. Tỷ lệ đơn hàng ngoài tỉnh tăng đều qua từng năm, trong đó kênh online chiếm tỷ trọng ngày càng lớn.

Theo anh Thiện, môi trường số giúp cơ sở kết nối trực tiếp với người tiêu dùng, tiếp nhận phản hồi nhanh chóng để điều chỉnh độ mặn, dung tích chai, mẫu mã bao bì. Các dòng sản phẩm dung tích nhỏ 250ml, 500ml được phát triển nhằm phù hợp xu hướng mua sắm online và nhu cầu làm quà tặng. Không chỉ mở rộng thị trường, kênh số còn giúp gia tăng giá trị thương hiệu, thay đổi hình ảnh sản phẩm mắm truyền thống theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại hơn.

Theo thống kê của ngành công thương, đến năm 2025, hàng nghìn sản phẩm OCOP và đặc sản địa phương của Thanh Hóa đã được đưa lên các sàn thương mại điện tử. Theo báo cáo năm 2025 từ Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, Thanh Hóa xếp thứ 14/63 tỉnh về Chỉ số Thương mại điện tử (EBI); riêng chỉ số giao dịch B2C xếp thứ 9 toàn quốc. Những con số này cho thấy nền tảng thuận lợi để các làng nghề tiếp tục khai thác kênh số làm đầu ra ổn định, lâu dài.

Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số đang mở ra một hướng phát triển mới cho các làng nghề truyền thống của Thanh Hóa. Chuyển đổi số không làm phai nhạt giá trị cốt lõi của nghề, mà ngược lại còn tạo điều kiện để những tinh hoa ấy được quảng bá rộng rãi hơn tới người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh. Khi kinh nghiệm, bí quyết sản xuất lâu năm được kết hợp với tư duy thị trường hiện đại và kỹ năng công nghệ của thế hệ trẻ, sản phẩm làng nghề không chỉ giữ vững hương vị đặc trưng mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, kênh trực tuyến đang trở thành cầu nối quan trọng giúp các cơ sở sản xuất chủ động đầu ra, gia tăng giá trị thương hiệu và từng bước khẳng định vị thế đặc sản xứ Thanh trên thị trường rộng lớn.

Nguồn: baothanhhoa.vn (Đặng Hòa st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

số 2490/QĐ-UBND

Về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiều quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 -2030 tỉnh Nghệ An

Số 23/2026/TT-BNNMT

Thông tư Hướng dẫn thực hiện một số nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

số: 26/2026/QĐ-TTg

Quyết định ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm Mỗi xã một sản phẩm

số: 19/2026/QĐ-TTg

Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, xã đạt nông thôn mới hiện đại và tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

số 16/2026/QĐ-TTg

Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỉ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030

1451/QĐ-UBND

Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

827/QĐ-BNNMT

Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập1
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại92
  • Tổng lượt truy cập238
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây