10:50:05 14/07/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Bộ Nông nghiệp nói gì về kiến nghị xây hồ trữ nước ngọt quy mô lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long?10

Cử tri tỉnh An Giang kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đầu tư xây dựng hồ trữ nước ngọt với quy mô lớn cho Đồng bằng sông Cửu Long.

Hồ Ba Tri (Bến Tre) cạn trơ đáy trong mùa khô 2020 – Ảnh: MẬU TRƯỜNG

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa có công văn trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh An Giang về đầu tư hệ thống trữ nước ngọt và đầu tư xây dựng hồ trữ nước ngọt với quy mô lớn cho Đồng bằng sông Cửu Long.

Theo cử tri tỉnh An Giang, hiện nay biến đổi khí hậu và tình hình thời tiết diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng đến nguồn nước của Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh An Giang nói riêng.

Mực nước ở các sông, kênh cấp nguồn xuống thấp và rất thấp đã gây ra sạt lở, sụt lún các cơ sở hạ tầng, thiếu nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất của người dân.

Mặt khác tình trạng xâm nhập mặn vào đất liền ngày càng sâu, gây thoái hóa, hư hại đất làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, đa dạng sinh học, tác động đến cuộc sống, sinh hoạt, sản xuất của người dân.

Sắp có thêm hồ chứa nước ngọt 80 triệu m3

Đối với kiến nghị đầu tư hệ thống trữ nước ngọt để bổ sung vào lượng nước bị thiếu hụt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết bộ đã chỉ đạo và các địa phương tổ chức triển khai theo các hình thức trữ chủ yếu như trữ nước trong mương vườn bằng cách lên liếp, tạo mương trữ nước giữa các hàng cây.

Trữ nước bằng cách đào ao, bể phân tán quy mô hộ, nhóm hộ gia đình, trữ nước trên ruộng (đối với cây lúa) và trữ nước trong lu, vại, bể (phục vụ cấp nước sinh hoạt).

Trữ nước trong hệ thống kênh rạch, theo tính toán của các đơn vị tư vấn của bộ, tổng lượng nước có thể trữ trong hệ thống kênh, rạch các cấp của hệ thống thủy lợi Đồng bằng sông Cửu Long khoảng 2,5 – 3 tỉ m3nếu được đầu tư thêm công trình thủy lợi nội đồng và thực hiện linh hoạt quy trình vận hành.

Điển hình, hệ thống thủy lợi bắc Bến Tre hiện đang được đầu tư, khi hoàn thiện thì sông Ba Lai sẽ trở thành 1 hồ chứa nước ngọt với dung tích khoảng 80 triệu m3.

Hiện nay, bộ đang chỉ đạo đầu tư xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt tại các vùng khan hiếm nước, xâm nhập mặn trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021-2026 để cấp nước cho người dân thường xuyên bị thiếu nước sinh hoạt do ảnh hưởng của hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Nghiên cứu xây cống Vàm Cỏ, Hàm Luông

Đối với kiến nghị đầu tư xây dựng hồ trữ nước ngọt với quy mô lớn cho Đồng bằng sông Cửu Long, bộ đánh giá đây là khu vực có địa hình tương đối bằng phẳng và mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc, việc xây dựng các hồ chứa quy mô lớn trong vùng cũng đã được nghiên cứu bước đầu.

Tuy nhiên, một số vấn đề khá khó khăn cần nghiên cứu sâu hơn để giải quyết, như việc trữ nước quy mô lớn cần giải phóng mặt bằng với diện tích đất rất lớn (đa số là đất canh tác lúa 2-3 vụ/năm), chất lượng nước sẽ bị ảnh hưởng ở những khu vực đất phèn, đất mặn và tốc độ bốc hơi lớn.

Cùng với đó là khó khăn trong đảm bảo an toàn công trình trữ nước (nhất là vào mùa lũ) và trong công tác quản lý, vận hành, khai thác do phải chuyển nước đến vùng khô hạn cách xa hồ chứa nước (phải dùng bơm và các công trình chuyển nước qua các hệ thống sông, kênh, rạch trong vùng).

Một trong những giải pháp được đề xuất hiện nay là xây dựng các hồ trữ nước phân tán để phục vụ nhu cầu tại chỗ, các hồ chứa này chủ yếu được tận dụng các đoạn kênh đã có hoặc các khu đất trũng, ngập nước để giảm bớt diện tích đất sử dụng.

Điển hình như hồ chứa kênh Lấp (tỉnh Bến Tre), hồ chứa nước huyện U Minh (tỉnh Cà Mau), hồ Vị Thủy (tỉnh Hậu Giang)…

Về lâu dài Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục nghiên cứu giải pháp xây dựng các cống lớn kiểm soát cửa sông Cửu Long như cống Vàm Cỏ, cống Hàm Luông…

Khi đó các sông chính sẽ đóng vai trò như những hồ chứa nước để phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho người dân.

Bộ cũng đề nghị Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang kiến nghị UBND tỉnh An Giang chỉ đạo các cơ quan liên quan thực hiện hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tại Chiến lược phát triển trồng trọt và các chính sách hỗ trợ ngành trồng trọt trong chuyển đổi sản xuất nông nghiệp.

Đồng thời, chủ động bố trí và lồng ghép các nguồn lực đầu tư xây dựng mới, sửa chữa, nâng cấp hệ thống công trình thủy lợi, công trình cấp nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh để phục vụ sản xuất và sinh hoạt thích ứng với biến đổi khí hậu.

Cử tri Tiền Giang kiến nghị tiếp tục có nhiều giải pháp để đảm bảo nguồn nước ngọt cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới, khi Campuchia khởi công dự án kênh đào Phù Nam Techo.

CHÍ TUỆ

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

số 2490/QĐ-UBND

Về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiều quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 -2030 tỉnh Nghệ An

Số 23/2026/TT-BNNMT

Thông tư Hướng dẫn thực hiện một số nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

số: 26/2026/QĐ-TTg

Quyết định ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm Mỗi xã một sản phẩm

số: 19/2026/QĐ-TTg

Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, xã đạt nông thôn mới hiện đại và tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

số 16/2026/QĐ-TTg

Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỉ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030

1451/QĐ-UBND

Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

827/QĐ-BNNMT

Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập1
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại92
  • Tổng lượt truy cập238
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây