





Đến nay, Nghệ An có 588 sản phẩm OCOP còn hiệu lực, gồm 545 sản phẩm 3 sao, 40 sản phẩm 4 sao và 3 sản phẩm 5 sao. Chương trình đã tạo chuyển biến tích cực trong sản xuất nông thôn; nhiều chủ thể từng bước thay đổi tư duy, quan tâm hơn đến chất lượng, bao bì, truy xuất nguồn gốc, xúc tiến thương mại và ứng dụng khoa học – công nghệ. Doanh thu các sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên tăng khoảng 8-10%/năm, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 2.300 lao động và khoảng 1.800-2.000 lao động thời vụ.
Tuy nhiên, sản phẩm 3 sao vẫn chiếm tỷ lệ lớn; một số sản phẩm còn sản xuất thủ công, công nghệ lạc hậu, giá thành cao, mẫu mã và bao bì chưa hấp dẫn. Tình trạng sản phẩm tương đồng, thiếu sự khác biệt, liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ chưa chặt chẽ và kết nối OCOP với du lịch còn hạn chế.
Thực tế đó cho thấy, giai đoạn mới không thể tiếp tục đặt nặng mục tiêu tăng số lượng sản phẩm. Vấn đề quan trọng hơn là làm thế nào để sản phẩm đã được công nhận thực sự sống được trên thị trường, tạo doanh thu, nâng thu nhập cho chủ thể và từng bước hình thành thương hiệu có sức cạnh tranh.
Theo đó, cần rà soát, phân loại và tái cấu trúc danh mục sản phẩm; ưu tiên sản phẩm có tiềm năng nâng hạng, đã có thị trường, gắn với vùng nguyên liệu, làng nghề, du lịch hoặc có khả năng mở rộng quy mô. Trên cơ sở đó, lựa chọn nhóm sản phẩm OCOP chủ lực cấp tỉnh để tập trung nguồn lực về công nghệ, chất lượng, thương hiệu, vùng nguyên liệu và thị trường. Mỗi địa phương không nhất thiết phải có thêm thật nhiều sản phẩm. Điều quan trọng là xác định được sản phẩm thực sự đặc trưng, có lợi thế cạnh tranh, có câu chuyện, vùng nguyên liệu, chủ thể đủ năng lực và thị trường phù hợp.

Sản phẩm OCOP 5 sao của Công ty TNHH Đức Phong
Một sản phẩm được công nhận OCOP chưa đồng nghĩa với việc sản phẩm đã bán chạy. Vì vậy, tư duy phát triển cần chuyển từ “sản xuất cái mình có” sang “sản xuất cái thị trường cần”.
Ngay từ khâu lựa chọn sản phẩm phải nghiên cứu nhu cầu người tiêu dùng, phân khúc khách hàng, xu hướng tiêu dùng, giá thành, khả năng cạnh tranh và kênh phân phối. Mỗi nhóm sản phẩm cần có chiến lược riêng: thực phẩm chú trọng chất lượng, an toàn và khả năng bảo quản; dược liệu gắn với vùng nguyên liệu và tiêu chuẩn; thủ công mỹ nghệ kết hợp thiết kế hiện đại với giá trị văn hóa; sản phẩm du lịch phải tạo thành trải nghiệm hoàn chỉnh.
Xúc tiến thương mại cũng cần chuyển từ quảng bá đơn thuần sang kết nối thị trường. Bên cạnh hội chợ, triển lãm, cần tăng cường đưa sản phẩm vào hệ thống phân phối hiện đại, siêu thị, cửa hàng chuyên doanh, sàn thương mại điện tử và các nền tảng bán hàng trực tuyến. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng được thị trường tiêu thụ ổn định, thay vì chỉ đưa sản phẩm đi quảng bá.
Không thể có sản phẩm OCOP phát triển bền vững nếu vùng nguyên liệu thiếu ổn định. Vì vậy, Nghệ An cần ưu tiên xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung gắn với nhóm sản phẩm chủ lực; phát triển vùng trồng dược liệu, chè, cây ăn quả, lạc, sen và các sản phẩm đặc sản theo hướng ổn định, có kiểm soát chất lượng.
Liên kết cần được tổ chức theo chuỗi nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp chế biến – phân phối – người tiêu dùng. Hợp tác xã tổ chức vùng nguyên liệu, doanh nghiệp dẫn dắt về công nghệ và thị trường, người dân trực tiếp sản xuất. Khi lợi ích được phân chia hợp lý, liên kết mới có thể duy trì lâu dài.
Cùng với vùng nguyên liệu, cần đẩy mạnh đổi mới công nghệ, nhất là ở các khâu sơ chế, chế biến, đóng gói, bảo quản và kiểm soát chất lượng. Đối với chủ thể nhỏ, có thể phát triển các cơ sở dùng chung về chế biến, đóng gói, kiểm nghiệm để giảm chi phí đầu tư. Đồng thời, khuyến khích áp dụng VietGAP, HACCP, ISO, GMP phù hợp với từng nhóm sản phẩm, tạo nền tảng để nâng hạng và tiếp cận hệ thống phân phối hiện đại.
Chuyển đổi số cần đi vào thực chất, phục vụ quản lý và tiêu thụ sản phẩm. Theo tài liệu của tỉnh, hơn 300 sản phẩm đã được cập nhật trên các sàn thương mại điện tử và 100% sản phẩm OCOP được gắn mã vạch, mã QR truy xuất nguồn gốc.
Giai đoạn tới cần chuyển từ “có mã QR” sang “quản trị sản phẩm bằng dữ liệu số”. Mỗi sản phẩm từng bước xây dựng hồ sơ dữ liệu về chủ thể, vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn, chứng nhận, thời hạn công nhận, sản lượng và thị trường.
Mã QR cũng cần trở thành công cụ marketing, giúp người tiêu dùng biết nguồn gốc, câu chuyện, quy trình sản xuất, chứng nhận và địa chỉ mua hàng. Các chủ thể cần được hỗ trợ khai thác hiệu quả mạng xã hội, sàn thương mại điện tử và nền tảng bán hàng trực tuyến để tiếp cận khách hàng và tăng doanh số.
Song song với chuyển đổi số là xây dựng thương hiệu. Các sản phẩm chủ lực cần được hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu, kiểu dáng, chỉ dẫn địa lý và các hình thức bảo hộ phù hợp; đầu tư chuyên nghiệp cho bao bì, nhận diện và câu chuyện sản phẩm. Lợi thế về vùng đất, văn hóa, nghề truyền thống và tri thức bản địa cần được chuyển hóa thành giá trị thương hiệu.
Nghệ An có nhiều lợi thế về biển, miền núi, làng nghề, di tích lịch sử và du lịch cộng đồng. Đây là dư địa lớn để mở rộng thị trường OCOP. Giai đoạn 2026-2030 cần hình thành các “điểm đến OCOP”, nơi du khách được tham quan vùng nguyên liệu, trải nghiệm sản xuất, chế biến, thưởng thức và mua sản phẩm. Khi đó, OCOP trở thành một phần của chuỗi giá trị du lịch, còn du lịch trở thành kênh quảng bá, tiêu thụ sản phẩm.
Cùng với thị trường và công nghệ, năng lực chủ thể là yếu tố quyết định. Phần lớn chủ thể là hợp tác xã nhỏ, doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc hộ gia đình, còn hạn chế về quản trị, marketing, thương mại điện tử và xây dựng thương hiệu. Vì vậy, đào tạo cần chuyển từ tập huấn chung sang hỗ trợ theo nhu cầu: chủ thể nâng hạng cần được tư vấn về chất lượng, thương hiệu và thị trường; chủ thể hướng tới xuất khẩu cần được hỗ trợ về tiêu chuẩn quốc tế, bao bì, logistics; hộ miền núi cần được hỗ trợ trực tiếp, thiết thực.
Đánh giá, công nhận lại sản phẩm cũng cần được xem là cơ hội để nâng cấp thay vì áp lực. Tăng cường hướng dẫn trước đánh giá, hậu kiểm và chú trọng chất lượng thực tế, vùng nguyên liệu, khả năng duy trì tiêu chuẩn, hiệu quả thị trường sẽ giúp OCOP phát triển bền vững hơn.

gắn sản phẩm OCOP với du lịch nông thôn
Thị trường trong nước vẫn là nền tảng, nhưng Nghệ An cần lựa chọn những sản phẩm có lợi thế để từng bước tiếp cận thị trường quốc tế. Tỉnh định hướng hỗ trợ khoảng 30-50 sản phẩm OCOP, sản phẩm chủ lực quảng bá trên các nền tảng quốc tế giai đoạn 2026-2030. Việc lựa chọn cần có trọng tâm, ưu tiên sản phẩm có vùng nguyên liệu ổn định, quy trình đạt chuẩn và khả năng cung ứng tốt.
Để thực hiện mục tiêu đó, nguồn lực hỗ trợ cũng cần thay đổi theo hướng tập trung, có trọng tâm, có điều kiện và đo được hiệu quả. Ưu tiên cho sản phẩm chủ lực, sản phẩm có tiềm năng nâng hạng, gắn với vùng nguyên liệu, tạo việc làm và có khả năng mở rộng thị trường. Đồng thời, lồng ghép nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia, khoa học – công nghệ, khuyến công, xúc tiến thương mại và huy động sự tham gia của doanh nghiệp, ngân hàng, hệ thống phân phối, tổ chức khoa học và đơn vị công nghệ.
Giai đoạn 2026-2030 vì thế cần được xác định là giai đoạn nâng chất OCOP Nghệ An. Thành công của chương trình không chỉ đo bằng số lượng sản phẩm được công nhận, mà bằng số sản phẩm tăng doanh thu, nâng hạng, vào được hệ thống phân phối hiện đại; số vùng nguyên liệu được hình thành, thương hiệu được bảo hộ, sản phẩm có khả năng xuất khẩu và việc làm, thu nhập được tạo ra cho người dân.
Từ nền tảng 588 sản phẩm hiện có, Nghệ An cần tạo bước chuyển mạnh: từ sản xuất sang thị trường, từ sản phẩm sang thương hiệu, từ đơn lẻ sang chuỗi giá trị, từ thủ công sang công nghệ, từ thị trường nội địa từng bước hướng tới thị trường quốc tế. Bởi suy cho cùng, giá trị của một sản phẩm OCOP không nằm ở số sao được in trên bao bì, mà ở niềm tin của người tiêu dùng, doanh thu của chủ thể và thu nhập mà sản phẩm tạo ra cho cộng đồng. Khi những giá trị đó được hình thành và phát triển bền vững, những “ngôi sao” OCOP Nghệ An mới thực sự tỏa sáng trên thị trường.
Nguồn: Đặng Hòa Chi cục KTHT&PTNT
Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035
Quyết định Quy định áp dụng Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và ban hành tiêu chí xã nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Quyết định Phê duyệt danh sách các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới/nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An
về đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiều quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 -2030 tỉnh Nghệ An
Thông tư Hướng dẫn thực hiện một số nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Quyết định ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm Mỗi xã một sản phẩm
Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, xã đạt nông thôn mới hiện đại và tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030
Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỉ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030
Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

Giá cau tươi ở Đắk Lắk “tuột dốc” chỉ còn 40.000-60.000 đồng/kg, lò sấy, đại lý thu mua có động thái lạ
Nuôi hơn 2.000 chim trĩ, nông dân Nghệ An thu trăm triệu mỗi năm
Dự báo ‘nóng’ về cung cầu gạo 2024/25: Sản lượng và nhu cầu đều tăng, cơ hội nào cho gạo Việt?
Tre tứ quý giúp đồi cằn ‘đẻ ra tiền’
Quảng Ngãi có 53 loài động vật quý hiếm, gồm 14 loài chim hoang dã được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam
Đàn động vật hoang dã có tên trong sách Đỏ hay ngồi trên cây nhìn xuống ở khu rừng nổi tiếng Gia Lai
Xã Nghi Diên (huyện Nghi Lộc) kỷ niệm 70 năm thành lập và đón Bằng công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao
Sự thật loại trứng xanh lè xanh lét siêu độc, lạ, giá gần 1 triệu/quả, được rao bán rầm rộ khắp các chợ
Bán lượng gạo khổng lồ, Việt Nam cũng là nhà nhập khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới, mua của ai nhiều nhất? 