22:28:34 06/04/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Mật ngọt dưới những tán rừng ngặp mặn

HẢI PHÒNGDưới những tán rừng ngập mặn ven biển Hải Phòng, nghề nuôi ong không chỉ góp phần bảo vệ hệ sinh thái bền vững mà còn giúp người dân làm giàu khi đã là OCOP.

Sinh kế dưới tán rừng ngập mặn

Khi những tia nắng đầu tiên xuyên qua làn sương muối mờ ảo của vùng cửa biển xã Kiến Hải, TP Hải Phòng, ông Đặng Thanh Tùng – Giám đốc HTX Mật ong Tùng Hằng đã có mặt giữa rừng ngập mặn. Đưa tay nâng nhẹ một khung cầu đầy ắp ong thợ đang rung cánh, ông cười bảo “Mật ong ở đây không chỉ là đường, đó là tinh túy từ gió biển và phù sa kết đọng”.

Mật ngọt dưới những tán rừng ngặp mặn

Ông Đặng Thanh Tùng – Giám đốc HTX Mật ong Tùng Hằng kiểm tra đàn ong vào một buổi sáng sớm. Ảnh:Đinh Mười.

Ở Hải Phòng,mật ong rừngngập mặn không còn là sản phẩm khai thác tự nhiên đơn thuần mà đã trở thành một “đặc sản được chứng nhận OCOP” mang đậm hơi thở của biển cả và sự sáng tạo của những “lão nông tri điền” thời công nghệ.

Hơn 20 năm trước, ít ai ngờ vùng đất mặn chát này lại có thể sản sinh ra thứ mật ngọt lịm. Năm 1997, khi dự án “Trồng rừng ngập mặn giảm thiểu rủi ro thảm họa” do Nhật Bản tài trợ phủ xanh 650 ha ven biển Kiến Thụy, những đàn ong rừng bắt đầu tìm về. Ông Tùng, khi đó là một ngư dân, đã nhận ra cơ hội đổi đời từ chính những loài cây “ngủ trong nước mặn” như sú, vẹt, bần.

Về sự đặc biệt của mật ong rừng ngập mặn, ông Tùng giải thích rằng “Bí mật nằm ở tỷ lệ hoa, rừng ở đây có tới 70-80% là cây bần cổ thụ. Mật hoa bần có chất lượng cao nhất, giàu khoáng chất hơn hẳn mật sú hay vẹt”. Nhưng thiên nhiên mới chỉ là điều kiện cần, để đưa mật ong tiến tới chuẩn OCOP 4 sao, ông Tùng đã dành 10 năm quan sát để phát minh ra kỹ thuật độc đáo.

Nhờ những sáng kiến như thay chúa kế vương, cải tiến diện tích bánh tổ thêm 10%, mỗi đàn ong của HTX Tùng Hằng giờ đây cho năng suất vượt trội, trung bình 12-15 lít mật/năm. Với hơn 1.000 đàn ong, mỗi năm HTX thu về hàng tỷ đồng, mang lại lợi nhuận ròng hơn 700 triệu đồng cho người dân địa phương.

Mật ngọt dưới những tán rừng ngặp mặn

Sự am hiểu, kinh nghiệm và sáng tạo đã giúp ông Tùng cải thiện được năng suất vượt trội, trung bình 12-15 lít mật/năm. Ảnh:Đinh Mười.

“Thông thường, khi thay ong chúa già, người nuôi phải giết chúa cũ, khiến đàn ong mất 15 ngày đứt gãy thế hệ, sản lượng mật sụt giảm. Kỹ thuật của ông Tùng cho phép chúa già và chúa non cùng tồn tại trong một tổ một thời gian. Chúa già vẫn đẻ, chúa non bắt đầu sinh sản, giúp quân số đàn ong luôn duy trì ở mức đỉnh cao. Nó giống như việc chuyển giao quyền lực một cách êm thấm, không làm xáo trộn ‘gia đình’ ong”, ông Tùng ví von.

Mật ong rừng ngập mặn được đánh giá là “siêu sạch” vì loài cây này không bao giờ phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hay phân bón hóa học. Đó chính là lợi thế cạnh tranh tuyệt đối giúp sản phẩm dễ dàng lên kệ tại các siêu thị lớn trong nước và các sàn thương mại điện tử.

Câu chuyện của mật ong Hải Phòng không dừng lại ở kinh nghiệm dân gian. Bước ngoặt thực sự đến khi các chủ thể OCOP bắt đầu áp dụng công nghệ hạ thủy phần, một bài toán khó mà nhiều người nuôi ong truyền thống từng bó tay.

Mật ong rừng ngập mặn vốn có hàm lượng nước cao (thường trên 27%) do độ ẩm vùng biển lớn. Nếu để tự nhiên, mật dễ lên men, nổi bọt khí và bị chua sau vài tháng. Theo lời khuyên của một chuyên gia Nhật Bản từ năm 2012, ông Tùng đã trăn trở tìm cách “rút nước” khỏi mật. Phải mất gần 10 năm, qua 40 mẻ thử nghiệm hỏng, ông mới làm chủ được hệ thống máy tách nước thủy phân.

Giờ đây, mật ong sau khi thu hoạch trong vòng 6 giờ sẽ được đưa vào máy hạ thủy phần xuống dưới 21%, đạt chuẩn quốc tế. Giọt mật trở nên đặc quánh, trong veo và có thể bảo quản nhiều năm không đổi màu, đổi vị. “Khách hàng bây giờ tinh lắm, mật phải sạch và chuẩn thì mới trụ lại được”, ông Tùng chia sẻ thêm.

Mật ngọt dưới những tán rừng ngặp mặn

Mật ong rừng ngập mặn có lợi thế là sạch vì những loài cây này không bao giờ phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hay phân bón hóa học. Ảnh:Đinh Mười.

Khát vọng vươn xa

Sức sống của nghề nuôi ong dưới tán rừng ngập mặn Hải Phòng không chỉ đo bằng những con số lợi nhuận, mà còn bằng màu xanh của rừng. Người nuôi ong chính là những người bảo vệ rừng tích cực nhất. Bởi họ hiểu, rừng còn xanh thì mật mới ngọt, rừng mất đi thì sinh kế cũng chấm hết.

“Nhờ rừng ngập mặn mà dân không bị vỡ đê khi bão lớn, lại có thêm nguồn lợi thủy sản và hoa cho ong. Chúng tôi bảo vệ rừng như bảo vệ tài sản của chính mình”, ông Đặng Văn Thủy, Bí thư thôn Đông Tác, xã Kiến Hải tâm sự. Mối quan hệ cộng sinh giữa con ong – tán rừng – con người đã tạo nên một vòng tròn kinh tế bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, con đường đưa mật ong Hải Phòng ra thế giới vẫn còn những rào cản. Tại các buổi làm việc với Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố, các HTX vẫn kiến nghị về việc bảo hộ thương hiệu mạnh hơn trước sự xâm lấn của giống ong ngoại, cũng như hỗ trợ quỹ đất xây dựng trụ sở và cơ sở chế biến sâu.

Kết thúc chuyến thực tế, tôi nhớ mãi hình ảnh những “tổ tam tam” thu hoạch mật tại xã Đại Hợp. Ba người một nhóm, quy trình quay mật được giám sát chéo để tuyệt đối không có sự trà trộn của mật giả, mật kém chất lượng. Đó chính là “đạo đức nghề nghiệp” của những nông dân OCOP, yếu tố then chốt tạo nên uy tín cho thương hiệu mật ong rừng ngập mặn của thành phố Cảng.

Mật ngọt dưới những tán rừng ngặp mặn

Ông Đặng Thanh Tùng (giữa ảnh), giới thiệu sản phẩm OCOP mật ong rừng ngập mặn với ông Nguyễn Hữu Đáng – Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hải Phòng. Ảnh:Đinh Mười.

Thực tế, tại Hải Phòng, ngoài mật ong rừng vùng cửa biển Kiến Thụy, hành trình đi tìm mật ngọt dẫn tôi ra đảo Cát Bà, khu dự trữ sinh quyển thế giới hay là mật ong rừng ở núi Côn Sơn. Nếu mật ong Kiến Thụy mạnh về quy mô và công nghệ xử lý, thì mật ong rừng Cát Bà lại mang giá trị bảo tồn vô giá, còn mật ong rừng Côn Sơn được ví như “vị thuốc quý” từ thiên nhiên giúp bồi bổ sức khỏe, tăng cường đề kháng.

Ong mật Cát Bà là giống “ong nội”, một trong ba loài ong quý hiếm nhất thế giới còn sót lại trong môi trường tự nhiên nguyên thủy. Những con ong nhỏ bé, cần mẫn bay sâu vào rừng già, hút mật từ hàng trăm loài hoa rừng quý hiếm để tạo ra thứ mật màu vàng đậm, đặc sánh và có mùi thơm nồng nàn của đại ngàn. Trong khi đó, mật Ong Chí Linh được thu hoạch từ vùng rừng núi xanh mát Chí Linh, được bảo quản trong điều kiện mát mẻ, không qua bất cứ một khâu xử lý nào nhằm giữ lại hương vị tự nhiên nhất của mật ong và đảm bảo độ nguyên chất là 100%.

TP Hải Phòng không chỉ có thép, có cảng, có công nghiệp nặng, thành phố này còn có những giọt mật tinh túy, được kết tinh từ sự giao hòa giữa đất, rừng và tình người ven biển. Những sản phẩm OCOP như mật ong Tùng Hằng, mật ong ở núi Côn Sơn hay nhãn hiệu mật ong rừng “Cát Bà Xanh”,… đang viết nên một chương mới cho nông nghiệp đô thị, nơi giá trị kinh tế đi đôi với bảo tồn di sản thiên nhiên và những sản vật trứ danh, độc đáo, hiếm nơi nào có được.

Toàn TP Hải Phòng hiện nay có hơn 33 nghìn ha rừng, trải dài trên địa bàn 35 xã, phường, trong đó, có hơn 16 ha rừng phòng hộ ven biển. Rừng ngập mặn ởHải Phòng đang sở hữu những điều kiện lý tưởng để trở thành điểm đến sinh thái hàng đầu miền Bắc, ngoài vai trò quan trọng trong phòng hộ đê biển và phòng chống thiên tai, đây còn là nơi tạo kế sinh nhai cho người dân ven biển.

Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn (Thu Hương st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

827/QĐ-BNNMT

Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

320/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại131
  • Tổng lượt truy cập148
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây