00:59:54 20/04/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Nghề khảm trai làng Chuôn Ngọ và công cuộc gìn giữ tinh hoa

Trước nhiều biến động, nghề khảm trai truyền thống làng Chuôn Ngọ đang đối mặt không ít thách thức trong hành trình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống.

Tinh hoa chạm khảm ngàn năm

Nằm ở tả ngạn sông Nhuệ, cách trung tâm Hà Nội khoảng 30km xuôi về cửa ngõ phía Nam, làng nghề khảm trai Chuôn Ngọ (xã Chuyên Mỹ, Hà Nội) là nơi tạo ra các sản phẩm khảm trai thủ công tinh xảo, gắn liền với nếp sinh hoạt và bản sắcvăn hóatruyền thống của dân tộc ta từ nhiều đời nay.

Nghề khảm trai làng Chuôn Ngọ và công cuộc gìn giữ tinh hoa

Những sản phẩm khảm trai tinh xảo được thực hiện bởi bàn tay tài hoa của người dân làng Chuôn Ngọ. Ảnh: Dương Thảo

Theo ghi chép của làng Chuôn Ngọ, nghề khảm trai nơi đây bắt đầu hình thành và phát triển vào khoảng thế kỷ XI – XVI, với ông tổ nghề khảm là ngài Trương Công Thành – một vị tướng tài dưới thời vua Lý Nhân Tông. Trước khi mất vào năm 1099, ngài Trương Công Thành đã truyền nghề khảm trai cho người dân thôn Ngọ. Từ đó, nghề khảm trai phát triển và được truyền rộng ra nhiều làng trong xã và một số vùng lân cận.

Nghề khảm trai làng Chuôn Ngọ và công cuộc gìn giữ tinh hoa

Nghề khảm trai được truyền lại từ lâu đời. Ảnh tư liệu

Các sản phẩm khảm trai, ốc của làng Chuôn Ngọ như hoành phi, câu đối, sập gụ, tủ chè… là kết tinh của giá trị văn hóa lâu đời và chứng kiến nhiều giai đoạn lịch sử quan trọng. Trong thập niên 1970, nhóm nghệ nhân do ông Nguyễn Văn Tố đứng đầu từng chế tác hơn 100 huy hiệu Bác Hồ phục vụ một sự kiện chính trị trọng đại của Trung ương.

Nghề khảm trai làng Chuôn Ngọ và công cuộc gìn giữ tinh hoa

Họa tiết trên các sản phẩm khảm trai chứa đựng tinh hoa văn hóa lâu đời của dân tộc trong dòng chảy lịch sử. Ảnh: Dương Thảo

Để biến những khối gỗ mộc thô sơ trở thành sản phẩm khảm trai tinh xảo, cần trải qua quá trình chế tác cẩn thận, tỉ mỉ của người thợ khảmlàng Chuôn Ngọ. Từng công đoạn như vẽ mẫu; cưa vỏ trai, ốc theo bản vẽ; đục gỗ; gắn mảnh ốc vào gỗ; mài khảm, tỉa đường nét… đều đòi hỏi sự khéo léo, kiên trì của những người thợ lành nghề.

Nghề khảm trai làng Chuôn Ngọ và công cuộc gìn giữ tinh hoa

Công đoạn trong khảm trai được thực hiện bởi những người thợ lành nghề. Ảnh: Dương Thảo

Chị Nguyễn Thị Tâm (54 tuổi) – chủ cơ sở sản xuất đồ gỗ khảm trai Tài Nguyệt đã theo nghề được 30 năm. Đối với chị, khảm trai là một bộ môn nghệ thuật đặc thù, đòi hỏi người thợ phải chăm chỉ trau dồi kỹ năng trong vòng ít nhất 1 năm mới có thể thuần thục.

“Trong các khâu khảm trai truyền thống, sen lọng là bước khó nhất, đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn thận của người thợ để khoét các chi tiết nhỏ sao cho không bị đứt gãy. Đây là công đoạn gắn từng mảnh trai, ốc vào từng vị trí được đục sẵn để tạo nên những mảng màu hài hòa cho sản phẩm”, anh Vũ Văn Minh (37 tuổi) – thợ khảm tại cơ sở sản xuất Tài Nguyệt chia sẻ về công đoạn khó nhất trong khảm trai.

Nghề khảm trai làng Chuôn Ngọ và công cuộc gìn giữ tinh hoa

Anh Vũ Văn Minh đang thực hiện công đoạn sen lọng trong khâu cưa ốc theo bản vẽ. Ảnh: Dương Thảo

Màu sắc của sản phẩm sẽ tùy thuộc vào loại trai, ốc được khảm. Hiện nay, xưởng sản xuất của chị Tâm sử dụng hai loại ốc có màu sắc chính là ốc xanh và ốc đỏ. Những sản phẩm được khảm bằng ốc đỏ sẽ có giá thành cao hơn ốc xanh, do tính chất quý hiếm và màu sắc đặc biệt của chúng.

Chị Tâm cho biết: “Hiện tại, ốc dùng để khảm thường được nhập từ các quốc đảo như Indonesia, Singapore… Giá thành của sản phẩm sẽ phụ thuộc vào loại ốc được khảm và kích thước, chủng loại hàng. Có loại chỉ khoảng 50 triệu đồng, nhưng cũng có loại giá trị cả tỷ đồng”.

Tuy giá thành đắt đỏ, nhưng sản phẩm khảm trai vốn không phải là món hàng hóa mang lợi ích kinh tế thông thường. Chúng là kết tinh của trí tuệ, lòng kiên nhẫn và sự sáng tạo của con người Việt Nam. Chính vì vậy, ngày nay, khi những yếu tố hiện đại, tự động hóa lên ngôi, còn rất ít người có đủ nhẫn nại và đam mê để theo học và bám trụ với nghề.

Trăn trở giữ lửa nghề khảm

Xưởng sản xuất của chị Nguyễn Thị Tâm hiện tại chỉ còn 5 nhân công, đều là những người thợ lành nghề có thâm niên hàng chục năm. Sống với công việc khảm trai từ thời niên thiếu đến nay đã gần 20 năm, anh Vũ Văn Minh là người cảm nhận rõ sự mai một dần củanghề truyền thốngnày.

“Khi tôi bắt đầu học nghề vào năm 2003, đây là công việc rất “hot”. Ngày ấy, làng Chuôn Ngọ nhà nào cũng làm khảm trai, vì một tác phẩm khảm trai rất quý giá. Còn bây giờ ít người theo nghề, vì họ có nhiều cơ hội việc làm nhàn hạ, thu nhập cao hơn, và không phải ai cũng có kiên nhẫn làm nghề thủ công như thế này” – anh Minh cho hay.

Nghề khảm trai làng Chuôn Ngọ và công cuộc gìn giữ tinh hoa

Mùa cáo điểm, áp lực công việc tăng vì lượng công nhân ít. Ảnh: Dương Thảo

Cùng chung nỗi lo giữ nghề, chị Nguyễn Thị Nụ (41 tuổi) – thợ khảm tại xưởng sản xuất Tài Nguyệt tâm sự: “Trước đây, nghề khảm rất đông người làm, nhưng nay có các khu công nghiệp và nhiều công việc khác, họ dần bỏ nghề hết. Ở làng Chuôn Ngọ, giờ chỉ còn 1-2 cơ sở còn duy trì được nghề khảm trai thủ công truyền thống”.

Theo chị Nụ, sau khi những thợ khảm có tuổi nghề 20-30 năm nghỉ việc, làng Chuôn Ngọ có thể sẽ không còn ai tiếp nối nghề truyền thống: “Nghề này xác định phải kiên trì mới làm được, nên hiện tại, rất hiếm người trẻ trong làng còn học làm khảm trai. Sau khi thợ tầm tuổi tôi nghỉ việc, có lẽ làng sẽ không còn giữ được nghềkhảm trainữa”.

Nghề khảm trai làng Chuôn Ngọ và công cuộc gìn giữ tinh hoa

Chị Nụ luôn mang trong mình nỗi lo mai một nghề truyền thống. Ảnh: Dương Thảo

Ngoài ra, trong bối cảnh thị trường hội nhập nhanh chóng, khảm trai Chuôn Ngọ vẫn đang loay hoay tìm chỗ đứng để cạnh tranh. Chị Tâm cho hay, nhóm khách của sản phẩm khảm trai khá đặc thù và khó tiếp cận, nên càng ngày, đầu ra càng ít dần. Giá của sản phẩm cũng không thấp như những sản phẩm gỗ gia công công nghiệp, nên cũng kén người mua hơn.

“Hiện tại, các sản phẩm khảm trai tại cửa hàng tôi khó tiếp cận với thị trường nước ngoài. Chủ yếu chỉ có khách du lịch đặt những món khảm trai nhỏ như bát, đĩa, bình hoa… làm kỷ niệm” – chị Tâm cho biết thêm.

Để hội nhập sâu hơn với nhiều thị trường khác nhau, chị Tâm cùng con trai đã đưa sản phẩm của cửa hàng lên các trang mạng xã hội, hội chợ làng nghề… nhằm tiếp cận với nhiều đối tượng khách hàng hơn. Công việc kinh doanh phát triển tại làng nghề không chỉ giúp người dân có nguồn thu nhập ổn định hơn, mà còn là cơ hội lan tỏa giá trị của nghệ thuật khảm trai truyền thống đến thế hệ trẻ.

Nghề khảm trai làng Chuôn Ngọ và công cuộc gìn giữ tinh hoa

Sử dụng mạng xã hội để quảng bá sản phẩm khảm trai của cửa hàng. Ảnh chụp màn hình

Trên địa bàn xã, trung tâm giới thiệu sản phẩm làng nghề là điểm nhấn kết nối du lịch, quảng bá sản phẩm OCOP gắn với trải nghiệm văn hóa. Hiện, Hợp tác xã có hơn 8 sản phẩm được công nhận OCOP, trong đó 3 sản phẩm đoạt giải Ba cấp thành phố, gồm: Tranh khảm trai “Phù dung – Chim trĩ”, bình lọ khảm trai và hộp trang sức lưu niệm. Tất cả đều là sản phẩm thủ công tinh xảo, mang giá trị nghệ thuật cao, được người tiêu dùng trong và ngoài nước yêu thích.

Để tiếng đục, tiếng khảm tại làng Chuôn Ngọ vang mãi những tinh hoa của nghệ thuật khảm trai truyền thống, trong tương lai, các nghệ nhân, chủ cơ sở sản xuất và thợ khảm tại làng nghề cần tích cực quan tâm đến việc truyền nghề cho các lớp thế hệ trẻ. Ngoài ra, những chính sách hỗ trợ phù hợp từ chính quyền các cấp cũng sẽ giúp người dân có thêm động lực tiếp tục bám nghề, giữ nghề và lan tỏa giá trị truyền thống giữa bối cảnh hiện đại hóa ngày nay.

Nguồn: congthuong.vn (Như Quỳnh st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

1451/QĐ-UBND

Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

827/QĐ-BNNMT

Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại129
  • Tổng lượt truy cập148
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây