08:22:02 17/07/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Vườn ở Huế thường trồng loại cây ra trái to bự, múi quả chín thơm khắp làng, cắn ngập chân răng ra mật ngọt

Như nhiều vùng miền khác, cứ vào tháng 7, tháng 8 là Huế vào mùa mít chín rộ. Trong vườn Huế thường có hai loại mít: Mít ướt và mít ráo. Mít mật khi cắn vào múi thì tươm ra dòng mật ngọt.

Trong những khu vườn truyền thống Huế, cây mít thường có mặt như một điều hiển nhiên. Không đơn thuần là một loại cây ăn trái, mít hiện diện trong đời sống văn hóa Huế từ ẩm thực, văn học dân gian, mỹ thuật tạo hình, kiến trúc cho đến triết học, tôn giáo.

Như nhiều vùng miền khác, cứ vào tháng 7, tháng 8 là Huế vào mùa mít chín rộ. Trong vườn Huế thường có hai loại mít: Mít ướt và mít ráo.

Ăn mít ướt đúng điệu thì phải bổ dọc, sau khi nhẹ nhàng bóc phần cồi (cùi) ra, dùng đũa gắp từng múi chấm với muối trắng để ăn. Vị ngọt và có chút the rút nơi đầu lưỡi là đặc điểm riêng của mít ướt. Mít ráo thì nhiều loại hơn: Mít dừa có múi dày và dòn, mít nghệ vàng ươm, mít mật khi cắn vào múi thì tươm ra dòng mật ngọt.

So với mít ướt, cách ăn mít ráo có những khác biệt nhất định. Khi cắt vỏ, bỏ cùi, người Huế thường lấy lá chuối hay lá vả để lót và lau sạch mủ.

Đặc biệt, lớp thịt sát vỏ được gọi là “đợn mít” rất được trẻ con ưa thích. Phần xơ mít cũng không hề bị vứt bỏ mà được các bà, các mẹ đem kho với cá nục tươi hoặc dùng để làm các món chay: xơ mít kho, chả xơ mít. Xơ mít còn được cẩn thận phơi khô, mùa đông đến thì kho chung với cá cấn, cá mại.

Hầu hết nhà vườn ở Huế dều trồng mít như nguồn thực phẩm tự cung tự cấp. Trong vườn Huế thường có hai loại mít: Mít ướt và mít ráo. Ảnh: MC

Hạt mít cũng là món “tích cốc phòng cơ” của người Huế. Hạt mít tươi sau khi lột lớp màng bên ngoài (gọi là “đài mít”) rồi đem luộc cùng nồi sắn, khoai cũng đủ để cả nhà lót dạ buổi sáng.

Những hạt mít khô vùi trong bếp lửa mùa đông, thỉnh thoảng nổ đôm đốp, thơm lừng, bùi bùi, mặn mặn là ký ức đậm đà của nhiều thế hệ người Huế.

Cầu kỳ hơn, hạt mít sau khi luộc, bóc vỏ, giã mịn rang lên cùng gia vị thì vắt thành từng viên nhỏ, nhét vào múi mít (mới chín hườm), phết mật ong lên, lấy cọng hành buộc lại rồi đem hấp. Đây là món “mít vương phủ” đậm chất Huế mà không phải ai cũng có điều kiện thưởng thức.

Người Huế cũng có “nhiều điệu” ăn mít non. Mít non ram. Mít non luộc chấm nước tương, nước ruốc hoặc mắm nêm hay cắt mỏng trộn cùng mè hay đậu phụng.

Mít non nấu canh tôm, thịt thì không thể thiếu lá sân hay lá lốt… Việc trồng mỗi cây mít trong vườn thường nằm trong những tính toán của gia chủ về cột, kèo, đòn tay, rui, mèn, tủ, giường, bàn, ghế… để vài mươi năm sau có một căn nhà gỗ khang trang.

Màu sắc gỗ mít đẹp, độ cứng cao, thớ gỗ mịn, tính ít giãn nở… là lý do các gia chủ ưu tiên sử dụng gỗ của loại cây này.

Không chỉ vườn nhà, vườn chùa Huế cũng trồng rất nhiều mít. Ngoài nguồn thực phẩm tự cung tự cấp, mít còn là loại cây tâm linh, biểu tượng cho đạo Phật.

Mít là từ rút gọn của từ Pāramī trong tiếng Phạn (được phiên thành âm Hán Việt là Ba la mật – 菠 蘿 蜜). Pāramī (Ba la mật) là một khái niệm liên quan đến thực hành Bồ tát trong Phật giáo.

Tùy theo tông phái, Pāramī hay Hạnh Ba La Mật có thể 4, 6 hay 10 đức hạnh trong đó Hạnh Bố Thí (Dāna Pāramī) là đức hạnh đứng đầu.

Màu của tấm y kāsāva (cà sa) cũng thường được ví với màu vàng lõi mít. Mõ dùng tụng kinh trong chùa cùng các thứ pháp khí khác như bản, dùi đánh chuông cũng bằng gỗ mít. Gỗ mít cũng được ưu tiên chọn lựa làm các đồ thờ ở chùa và tư gia.

Ở Huế còn có một ngôi chùa đặc biệt mang tên Ba La Mật. Đây hẳn là cách đặt tên đầy dụng ý của ngài khai sơn – Viên Giác Đại sư Nguyễn Khoa Luận (1834 – 1900).

Trong lời ăn tiếng nói, có thể dễ dàng bắt gặp những ví von tiền như lá mít, mít đặc (dốt), mít ướt (tính nhõng nhẽo), tròn như hột mít (dáng người), chắc như hột mít (tính cách)… Và, không phải ngẫu nhiên mà mít cũng là loại quả được khắc trong Cao đỉnh – đỉnh đồng được đặt ở vị trí trung tâm sân Thế Miếu được vua Minh Mạng cho đúc vào năm 1836.

Nguyên Ninh (Báo Thừa Thiên Huế)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

Nghị quyết số 08/2026/NQ-HĐND

Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Chỉ Thị số 22-CT/TU

về đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Quyết định số 2490/QĐ-UBND

Về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiều quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 -2030 tỉnh Nghệ An

Thông tư Số 23/2026/TT-BNNMT

Thông tư Hướng dẫn thực hiện một số nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Quyết định số: 26/2026/QĐ-TTg

Quyết định ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm Mỗi xã một sản phẩm

số: 19/2026/QĐ-TTg

Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, xã đạt nông thôn mới hiện đại và tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg

Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỉ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030

1451/QĐ-UBND

Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

827/QĐ-BNNMT

Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập1
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại70
  • Tổng lượt truy cập238
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây