Từ những định hướng lớn của Đảng và Nhà nước, năm 2025 đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong triển khai cácchính sách dân tộc, với nhiều kết quả nổi bật cả về kinh tế – xã hội, an sinh và phát triển con người. Những chuyển biến tích cực tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi không chỉ phản ánh hiệu quả chính sách mà còn cho thấy sự thay đổi căn bản về tư duy phát triển theo hướng toàn diện, bền vững.

Nhiều chuyển biến tích cực tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi. Ảnh:Minh Quang.
Những chuyển biến rõ nét từ chính sách
Trọng tâm của giai đoạn vừa qua là việc triển khai đồng bộChương trình mục tiêu quốc giaphát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030 (giai đoạn I: 2021-2025), gắn với các chương trình xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Với tổng nguồn lực huy động hơn 137 nghìn tỷ đồng, chương trình đã hoàn thành và vượt 6/9 nhóm mục tiêu đề ra.
Một trong những kết quả nổi bật là giảm nghèo nhanh và bền vững tại các địa bàn được coi là “lõi nghèo” của cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào DTTS giảm bình quân 3,4%/năm – cao hơn mức giảm chung toàn quốc. Thu nhập bình quân của người DTTS đạt 43,4 triệu đồng, tăng gấp 3,1 lần so với năm 2020.
Trong bối cảnhtỷ lệ nghèotoàn cầu có xu hướng gia tăng, Việt Nam tiếp tục là điểm sáng khi tỷ lệ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn khoảng 1% vào năm 2025; riêng khu vực đồng bào DTTS giảm còn khoảng 11%.

Việt Nam tiếp tục là điểm sáng khi tỷ lệ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn khoảng 1% vào năm 2025. Ảnh:Quang Ngọc.
Theo PGS.TS Trần Minh Tuấn (chuyên gia chính sách công), thành công của Việt Nam trong giảm nghèo vùng DTTS không chỉ đến từ nguồn lực đầu tư mà còn từ cách tiếp cận tích hợp, gắn phát triển kinh tế với an sinh xã hội và bảo tồn văn hóa, tạo ra động lực nội sinh cho cộng đồng.
Song song đó, Chương trình xây dựng nông thôn mới tiếp tục lan tỏa hiệu quả. Đến giữa năm 2025, đã có 237 xã đặc biệt khó khăn đạt chuẩn nông thôn mới, góp phần thay đổi diện mạo vùng sâu, vùng xa, nâng cao chất lượng sống cho người dân.
Bảo đam an sinh xã hội, đời sống từng bước cải thiện
Một dấu ấn quan trọng là phong trào “Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát” được triển khai quyết liệt. Tính đến nay, đã có hơn 334.000 căn nhà được xây mới và sửa chữa, hoàn thành 100% kế hoạch hỗ trợ cho các nhóm đối tượng chính sách.
Riêng Chương trình mục tiêu quốc gia đã hỗ trợ nhà ở cho 42.567 hộ (vượt 230% kế hoạch), cùng với đó là hỗ trợ đất ở cho hơn 10.500 hộ, nước sinh hoạt cho gần 480.000 hộ và đầu tư 809 công trình nước tập trung. Những con số này không chỉ mang ý nghĩa vật chất mà còn tạo nền tảng ổn định đời sống lâu dài cho người dân.
Ở góc độ chuyên môn, TS. Nguyễn Thị Lan (Viện Nghiên cứu phát triển bền vững) nhận định: “Việc giải quyết bài toán nhà ở, nước sạch và hạ tầng cơ bản chính là bước đi căn cơ, giúp người dân vùng DTTS có điều kiện thoát nghèo bền vững và tiếp cận các dịch vụ xã hội thiết yếu”.
Cùng với đó, công tác trợ giúp pháp lý được tăng cường, bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho người dân vùng khó khăn. Trong 10 tháng đầu năm 2025, đã có 6.652 vụ việc trợ giúp pháp lý cho người DTTS, chiếm gần 25% tổng số vụ việc toàn quốc. Hoạt động này góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và dịch vụ xã hội
Không chỉ dừng ở hỗ trợ trước mắt, các chính sách dân tộc còn hướng đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tỷ lệ lao động DTTS trong độ tuổi được đào tạo nghề đạt gần 55%, với hơn 115.000 người được hỗ trợ học nghề và tìm kiếm việc làm.
Năm 2025 cũng ghi dấu bước đột phá trong phát triển giáo dục vùng biên giới. Hàng loạt trường phổ thông nội trú liên cấp được khởi công xây dựng với tổng vốn đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng, hướng tới mục tiêu hoàn thành 100 trường trước năm học 2026-2027.
Đặc biệt, chính sách miễn học phí cho học sinh từ mầm non đến hết THPT công lập trên phạm vi cả nước chính thức được triển khai từ năm học 2025-2026, tạo điều kiện quan trọng để trẻ em vùng DTTS tiếp cận giáo dục.
Các chính sách đặc thù như Nghị định 66/2025/NĐ-CP, Thông tư 20/2025/TT-BGDĐT tiếp tục hoàn thiện hệ thống hỗ trợ giáo dục. Đồng thời, việc bảo tồn và phát huy ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số được chú trọng thông qua các lớp song ngữ, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa.
Trong lĩnh vực y tế, mạng lưới chăm sóc sức khỏe cơ sở được củng cố, người DTTS được cấp thẻ bảo hiểm y tế và hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh. Gần 3,9 triệu lượt người đã được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, đặc biệt trong lĩnh vực bà mẹ – trẻ em.

Việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống được quan tâm. Ảnh:Đỗ Thành.
Song hành với phát triển kinh tế, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống được quan tâm. Chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào DTTS tiếp tục được triển khai hiệu quả, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.
Nhiều địa phương đã chủ động ban hành chính sách hỗ trợ riêng, tạo điều kiện để người có uy tín phát huy vai trò trong cộng đồng. Đồng thời, các chương trình giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống cũng đạt kết quả tích cực, với tỷ lệ giảm đều qua các năm.
Theo các chuyên gia xã hội học, đây là yếu tố quan trọng giúp nâng cao chất lượng dân số và phát triển bền vững vùng DTTS.
Định hướng giai đoạn mới
Những kết quả đạt được trong năm 2025 không chỉ khẳng định hiệu quả của chính sách mà còn tạo nền tảng để vùng đồng bào DTTS và miền núi tiếp tục phát triển nhanh, bền vững, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của đất nước.
Bước sang giai đoạn 2026-2030, Bộ Dân tộc và Tôn giáo tiếp tục triển khai các chính sách dân tộc theo hướng toàn diện, gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia và thực hiện các cam kết quốc tế, trong đó có Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD).
Trong năm 2026, Bộ tập trung đẩy mạnh các giải pháp bảo đảm đời sống, kinh tế và an sinh xã hội cho đồng bào DTTS; đồng thời tổ chức thực hiện hiệu quả các nội dung liên quan trong các chương trình xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2026-2035. Song song, các nhiệm vụ thực thi Công ước CERD và chuẩn bị Báo cáo quốc gia năm 2027 tiếp tục được triển khai theo quy định.



















