15:39:58 26/03/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Điểm tựa thoát nghèo

Từ chỗ sản xuất theo kinh nghiệm, tự lo đầu ra sản phẩm, khi tham gia vào hợp tác xã, nông dân được tiếp cận khoa học-kỹ thuật, ứng dụng chuyển đổi sốvào hoạt động sản xuất, kinh doanh theo chuỗi giá trị.

Điểm tựa thoát nghèo
Sản phẩm măng lục trúc lâm sinh của hợp tác xã Ngọc Châu, xã Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh giúp người dân thoát nghèo.

Tại nhiều địa phương, hợp tác xã luôn phát huy vai trò cầu nối giữa người dân với doanh nghiệp, tích cực hỗ trợ người dân vươn lên thoát nghèo.

Thực tế sản xuất cho thấy đã có rất nhiều người dân được hợp tác xã cùng đồng hành, hỗ trợ về kỹ thuật sản xuất để từ đó vươn lên ổn định đời sống.

Đồng hành cùng người dân

Ông Tống Đình Đảng, xã viên hợp tác xã nông sản Phú Lương (xã Hợp Thành, tỉnh Thái Nguyên) cho biết, sau khi tham gia hợp tác xã, được hướng dẫn trồng chè theo hướng hữu cơ vàtiêu chuẩn VietGAP, diện tích vườn chè 1.500m2 của gia đình đã cho thu nhập tăng từ 30-50% so với thời điểm chưa vào hợp tác xã.

Ngoài ra, các thành viên trong gia đình cũng được hợp tác xã bố trí việc làm phù hợp với mức lương từ 7-8 triệu đồng/người/tháng. Nhờ có thu nhập ổn định, gia đình ông đã nhanh chóng ổn định cuộc sống và tự tin hơn trong sản xuất.

Tại hợp tác xã nông sản Phú Lương, không chỉ có gia đình ông Tống Đình Đảng thành công trong phát triển kinh tế nhờ gia nhập hợp tác xã mà còn rất nhiều hộ nông dân khác đã vươn lên thoát nghèo, có cuộc sống ở mức trung bình khá.

Chia sẻ về hướng phát triển, Giám đốc hợp tác xã nông sản Phú Lương Tống Văn Viện cho biết, thời gian tới, hợp tác xã tiếp tục mở rộng diện tích trồng chè và lúa.

Bên cạnh đó, hợp tác xã phát triển thêm mô hình du lịch nông nghiệp trải nghiệm kết hợp với văn hóa bản sắc người Tày, bao gồm: Ẩm thực và đàn tính, hát then và các lễ hội trò chơi của người Tày nhằm tăng thu nhập cho người dân địa phương.

Ghi nhận những đóng góp tích cực của hợp tác xã nông sản Phú Lương, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hợp Thành, tỉnh Thái Nguyên cho biết, đây là mô hình hiệu quả trong việc phát triển kinh tế và giải quyết việc làm cho người dân địa phương (chủ yếu là dân tộc Tày).

Việc phát triển, nâng tầm giá trị những sản phẩm đặc trưng của địa phương góp phần quảng bá và lan tỏa hình ảnh của tỉnh Thái Nguyên.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên Nguyễn Mỹ Hải, việc hợp tác xã liên kết với các hộ dân không những giúp đơn vị bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định, chất lượng mà còn giúp các hộ dânthoát nghèo bền vững. Tỉnh xác định người dân muốn thoát nghèo thì phải có “trụ đỡ” và hợp tác xã chính là trụ đỡ đáng tin cậy để thực hiện nhiệm vụ đó.

Thái Nguyên có thế mạnh là cây chè, tỉnh phấn đấu đến năm 2030 có từ 20 đến 25.000ha chè; trong đó có 70% được chứng nhận hữu cơ và VietGAP.

Hiện nay, Sở có nhiều chính sách hỗ trợ cho các hợp tác xã nâng cao công tác quản trị, tập huấn kỹ thuật canh tác, tham gia các hội chợ,xúc tiến đầu tưtại các tỉnh, thành phố. Đã có rất nhiều hợp đồng được ký kết giúp các hợp tác xã đẩy mạnh sản xuất, nâng cao giá trị thúc đẩy kinh tế nông hộ.

Nhờ được hợp tác xã nấm Tam Đảo hỗ trợ về kỹ thuật sản xuất cũng như tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm, gia đình ông Nguyễn Ngọc Khoa (xã Bảo Hà, tỉnh Lào Cai) từ chỗ không có ruộng, canh tác chủ yếu trên những thửa đất ven sông, bãi, đã có thể sở hữu diện tích trồng dâu, nuôi tằm khá quy mô. Chỉ sau hai năm gia nhập hợp tác xã, gia đình ông đã trả hết nợ và xây được ngôi nhà khang trang.

Chia sẻ về quy mô sản xuất và hướng phát triển của hợp tác xã nấm Tam Đảo, Giám đốc Nguyễn Quốc Huy cho biết, chỉ tính riêng sản lượng nguyên liệu kén tằm năm 2025 của hợp tác xã đã đạt khoảng 500 tấn với doanh thu gần 20 tỷ đồng.

Cùng với đó, những hộ nông dân liên kết với hợp tác xã đều có mức thu nhập gần 300 triệu đồng/năm. Thậm chí có những hộ thu nhập chỉ một lứa tằm trong 15 ngày có thể đạt từ 30-40 triệu đồng, mang lại lợi ích kinh tế cao cho người dân.

Thành công của các hộ gia đình cho thấy, khi tham gia hợp tác xã được tập huấn kỹ thuật, chuyển giao khoa học-công nghệ, người nông dân không chỉ tăng thu nhập mà còn thay đổi cách nghĩ, cách làm.

Từ sản xuất manh mún sang sản xuất hàng hóa, từ bán thô sang tham gia chuỗi giá trị, từ bị động sang chủ động nắm bắt thị trường đem lại nguồn lợi kinh tế cao.

Tăng nguồn lực cho hợp tác xã

Theo Cục trưởng Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Lê Đức Thịnh, việc hỗ trợ vốn ban đầu cho các hợp tác xã chính là cú huých để nông nghiệp phát triển bền vững, tạo chuỗi giá trị mạnh hơn.

Các hợp tác xã sau khi được hỗ trợ đã định hướng sản xuất rõ ràng và thực hiện việc sử dụng vốn một cách hiệu quả. Bên cạnh nguồn vốn từ Quỹ tín dụng và các quỹ hỗ trợ khác, các hợp tác xã còn huy động vốn từ các thành viên để đầu tư sản xuất, đem lại hiệu quả tích cực.

Trong 5 năm trở lại đây, việc mở rộng sản xuất theo hướng liên kết chuỗi đang được hợp tác xã nông sản Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đẩy mạnh. Nhờ mở rộng sản xuất, tuân thủ quy trình canh tác hữu cơ, đa dạng các kênhbán hàng onlinekết hợp truyền thống, đến nay đơn vị đã có một sản phẩm chè OCOP 5 sao và 2 sản phẩm 4 sao, diện tích lúa liên kết với nông dân trong vùng cũng đạt khoảng gần 100ha.

Năm 2025, liên kết chuỗi đã đem lại mức doanh thu khoảng 30 tỷ đồng cho hợp tác xã. Với hợp tác xã nấm Tam Đảo, một lộ trình cho sự phát triển mạnh mẽ của năm 2026 và những năm tiếp sau cũng đã được xây dựng.

Hiện tại, hợp tác xã đang duy trì vùng nguyên liệu hơn 100ha tại các địa bàn, số diện tích này sẽ được nâng lên 500ha vào năm 2028 và đến năm 2030 đạt 1.000ha nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.

Những kịch bản cụ thể để hoàn thành mục tiêu đã được lên kế hoạch đầy đủ. Trong đó, việc chuyển đổi số trong quy trình kế toán tài chính, trang bị kiến thức khoa học-kỹ thuật cho xã viên được hợp tác xã quyết tâm triển khai với nguồn vốn đủ mạnh để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Thực tiễn sản xuất cho thấy, nhiều năm qua, nguồn vốn chảy về các hợp tác xã đều từ hệ thống tín dụng chính sách do Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam triển khai, cùng với mạng lưới của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam phủ sóng khắp cả nước đã góp phần đưa kinh tế nông thôn phát triển theo hướng bền vững.

Cùng với đó, các nguồn quỹ xã hội như Quỹ Thiện tâm của Tập đoàn Vingroup cũng đóng một phần không nhỏ cải thiện đời sống người dân nông thôn, góp phần thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới thành công.

Đơn cử, năm 2026, ngoài tiếp cận các nguồn vốn từ kênh truyền thống, hợp tác xã nông sản Phú Lương dự kiến sẽ nhận hỗ trợ từ Quỹ Thiện tâm 1 tỷ đồng để mua máy móc phát triển nông nghiệp.

Giám đốc Quỹ Thiện tâm Lý Minh Tuấn chia sẻ, cùng với hợp tác xã nông sản Phú Lương, 140 hợp tác xã trên cả nước cũng nhận được sự đồng hành của quỹ, với mong muốn giúp được nhiều nông dân, nhất là vùngđồng bào dân tộc thiểu sốphát triển, có năng lực để thoát nghèo một cách bền vững.

Nguồn: nhandan.vn (Anh Hùng st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

827/QĐ-BNNMT

Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

320/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại2
  • Tổng lượt truy cập19
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây