16:28:58 20/03/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

HTX vẫn gặp lực cản trong kéo dài chuỗi giá trị gia tăng

Dù kiên trì đi theo phương pháp ủ phân hữu cơ từ phế phụ phẩm, nhưng có một khó khăn với không ít HTX là phương pháp này cần diện tích lớn, phù hợp làm bãi ủ; cần nguồn nhân lực lớn từ khâu thu gom, phối trộn, đóng bao, vận chuyển… Trong khi đó, thành viên HTX hiện chủ yếu là người lớn tuổi, và phần đông là phụ nữ.

Khai thác còn hạn chế

Đặc biệt, ông Lê Nhương, Giám đốc HTX rau Thanh Đông (Đà Nẵng) chia sẻ, quy trình sản xuất hữu cơ cũng yêu cầu nguồn phế phụ phẩm để ủ thành phân (chất thải chăn nuôi, rau,…) phải chứng minh được là hữu cơ. Không đảm bảo được những điều kiện này, HTX sẽ không đáp ứng được tiêu chuẩn về đầu vào trong sản xuất và không lấy được chứng nhận hữu cơ.

Ông Đặng Văn Tắc, Giám đốc HTX Tân Phong (Phú Thọ) cho biết, HTX phổ biến quy trình ủ phân cho nhiều hộ dân cùng làm thì thường bị từ chối. Nguyên nhân là theo tính toán, nếu không được doanh nghiệp hỗ trợ chế phẩm sinh học, không chủ động được nguồn phế phụ phẩm thì mỗi sào lúa, người dân phải bỏ ra số tiền khoảng 600 nghìn đồng để ủ phân. Như vậy là cao hơn so với mua phân bón có sẵn trên thị trường.

Thực tế, việc tái sử dụng các phế phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp để gia tăng giá trị đã được người dân và nhiều HTX quan tâm thực hiện nhằm bảo đảm quy trình sản xuất tuần hoàn, bền vững.

HTX vẫn gặp lực cản trong kéo dài chuỗi giá trị gia tăng
Nghiễn cứu những sản phẩm mới, có giá trị gia tăng cao từ phế phụ phẩm nông nghiệp vẫn còn hạn chế.

Tuy nhiên, TS. Hà Thúc Dũng, Trung tâm Xã hội học và Môi trường – Viện KHXH vùng Nam Bộ đánh giá, hiện nay, người dân, HTX tái sử dụng phế phụ phẩm mới chủ yếu dùng ở các kỹ thuật như ủ phân hữu cơ, nuôi trùn quế/sâu/ruồi đen hay sơ chế phụ phẩm. Việc nghiên cứu sâu để cho ra những sản phẩm có giá trị cao hơn từ phế phụ phẩm (biến xơ dứa, tơ sen thành vải; biến phế phẩm thành vật liệu xây dựng, đồ gia dụng, mỹ phẩm…) còn khiêm tốn.

Bên cạnh đó, một trong những nút thắt để tái sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp của các HTX chính là nguồn vốn đầu tư. Theo khảo sát của TS. Hà Thúc Dũng và các đơn vị liên quan, tỷ lệ hộ dân tham gia dự án xử lý phế phụ phẩm có sự hỗ trợ của Nhà nước chiếm gần 62%; nhưng nếu phải góp vốn đối ứng thì những hộ không có khả năng chiếm 41%.

Rõ ràng, về mặt nhận thức, nhiều hộ dân, thành viên HTX có ý thức được rằng việc tận dụng phế phụ phẩm để tái sản xuất là rất tốt nhưng chính vấn đề kinh phí lại là lực cản đối với không ít người. Cùng với đó, có thể do chưa nhìn thấy được hiệu quả khiến nhiều người chưa dám bỏ một khoản kinh phí để biến phế phụ phẩm thành tài nguyên phục vụ cho sản xuất bền vững.

Khó trong vận chuyển

Không dừng lại ở khó khăn về kinh phí, ông Võ Quan Huy, Công ty TNHH Huy Long An, từng liên kết với nhiều HTX sản xuất chuối quy mô lớn, cho biết các quy định về vận chuyển phế phụ phẩm, chất thải hiện nay vẫn chưa rõ ràng gây khó khăn cho các đơn vị đi theo con đường sản xuất tuần hoàn.

Theo ông, thông thường các đơn vị sản xuất trên quy mô lớn có vùng nguyên liệu ở một nơi và khu vực chế biến, xử lý chất thải ở một nơi. Hoặc nếu đơn vị đó bán phế phụ phẩm cho đơn vị khác về tái chế hay đi thu mua phế phẩm về nhằm gia tăng giá trị thì quá trình vận chuyển lại đòi hỏi nhiều yêu cầu khắt khe.

Chất thải chăn nuôi, thân vỏ chuối nếu chưa qua quy trình xử lý thường bị cho là chất thải rắn và khi vận chuyển phải tuân thủ nhiều yêu cầu nghiêm ngặt: xe chuyên dụng, có lộ trình đăng ký… Điều này làm gia tăng chi phí đối với những đơn vị đi theo con đường tuần hoàn. Trong khi đó, sản xuất xanh, bền vững lại cần đầu tư nhiều vốn.

Ông Nguyễn Khắc Triều, đại diện HTX Nông nghiệp sinh thái và Dịch vụ Vũ Sơn Đức (Hà Tĩnh), cho biết vẫn chưa có quy chuẩn rõ ràng cho việc vận chuyển phế phụ phẩm nông nghiệp phục vụ tái chế. Thủ tục kiểm tra trong quá trình vận chuyển cũng rất phức tạp, chưa có sự thống nhất giữa các địa phương. Điều này gây ra những rủi ro và làm gia tăng chi phí trong khâu vận chuyển.

Chính vì những khó khăn này mà đến nay, dù lượng phế phụ phẩm mỗi năm của Việt Nam lên đến 160 triệu tấn nhưng tỷ lệ xử lý, tái sử dụng chỉ khoảng 30-40%, gây thiệt hại về kinh tế và môi trường.

GS. TS Đào Thế Anh, Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam cho biết không nhìn đâu xa, ngay ngành cà phê của Việt nam tuy có lợi thế về sản lượng nhưng chủ yếu xuất thô và việc tận dụng phế thải vẫn chưa được quan tâm thực hiện triệt để như ở Trung Quốc.

Quốc gia này đã tận dụng vỏ cà phê, bã cà phê để chế biến thành nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao như trà, sợi vải, vật liệu xây dựng sinh học. Trung Quốc cũng tự sản xuất được các chế phẩm sinh học, máy móc để xử lý phụ phẩm với số lượng lớn để hoàn thiện chuỗi giá trị, tăng khả năng cạnh tranh.

Do đó, việc hỗ trợ người dân máy móc xử lý rác thải, nghiên cứu ra những sản phẩm mới từ phế phụ phẩm cần được quan tâm nhiều hơn ở Việt Nam. Nhà nước cũng cần hình thành các quỹ tín dụng xanh nhằm hỗ trợ HTX, doanh nghiệp đi theo con đường tái chế để có thể biến nhiều “rác thải” thành “vàng” hơn nữa.

Nguồn: vnbusiness.vn (Cẩm Vân st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

827/QĐ-BNNMT

Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

320/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay1
  • Tháng hiện tại2
  • Tổng lượt truy cập19
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây