09:25:27 26/08/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Sau những chương trình hỗ trợ, người dân sống ra sao?

Kết quả này cho thấy các chính sách hỗ trợ bước đầu phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, câu chuyện giảm nghèo bền vững không chỉ dừng lại ở việc cấp vốn, cấp giống hay hỗ trợ ban đầu. Điều quan trọng hơn là sau hỗ trợ, người dân có thể duy trì và phát triển sinh kế như thế nào, có thực sự đứng vững hay vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất.

Năm 2025, xã Trạm Tấu đã hỗ trợ 88 hộ nghèo với tổng kinh phí trên 5,6 tỷ đồng để mua 264 con bò cái sinh sản cấp phát cho các hộ dân. Riêng thôn Tống Trong có 4 hộ được nhận hỗ trợ.

Ông Giàng A Lâu – Bí thư Chi bộ thôn Tống Trong cho biết: Thôn hiện có 102 hộ dân, trong đó còn 33 hộ nghèo. Thời gian qua, 4 hộ trong thôn được hỗ trợ bò sinh sản. Các hộ đều chăm chỉ lao động, có ý thức trong chăn nuôi, chủ động dự trữ thức ăn, vệ sinh chuồng trại và chăm sóc đàn vật nuôi.
Sau những chương trình hỗ trợ, người dân sống ra sao?
Đàn bò sinh sản của gia đình ông Thào A Trư, thôn Tống Trong, xã Trạm Tấu, được hỗ trợ từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang được chăm sóc, phát triển tốt.

Ông Thào A Chư là một trong những hộ được hỗ trợ 3 con bò cái sinh sản vào cuối năm 2025. Chuồng trại của gia đình được che chắn cẩn thận, nguồn thức ăn cho đàn bò được chủ động dự trữ từ trước mùa đông. Ông cũng đã biết nhận diện thời điểm bò động dục để thuê bò đực về phối giống. Những kiến thức chăn nuôi trước đây còn khá mới mẻ với nhiều hộ dân nay dần trở thành kỹ năng cần thiết, giúp người dân chủ động hơn trong phát triển kinh tế hộ gia đình.

Ông Chư chia sẻ: Gia đình tôi được hỗ trợ 3 con bò cái sinh sản. Ngoài việc nuôi nhốt và giữ ấm cho đàn vật nuôi, tôi còn chủ động phối giống để nhân đàn, từng bước tăng số lượng bò, tạo nguồn thu nhập ổn định cho gia đình.

Gia đình chị Vàng Thị Siu cũng là một trong những hộ được hỗ trợ 3 con bò cái sinh sản từ chương trình giảm nghèo của Nhà nước. Sau khi nhận bò, gia đình chị đã chủ động sửa lại chuồng trại, dự trữ thức ăn và học hỏi thêm kinh nghiệm chăn nuôi từ cán bộ khuyến nông cũng như các hộ trong thôn.

Chị Siu chia sẻ: Từ khi được Nhà nước hỗ trợ bò, gia đình tôi cố gắng chăm sóc cẩn thận, cho ăn đầy đủ và giữ ấm khi trời rét. Mong là bò sinh sản tốt để sau này bán bê con, có thêm tiền lo cho cuộc sống và nuôi con ăn học.

Sau những chương trình hỗ trợ, người dân sống ra sao?
Đàn bò sinh sản của gia đình chị Vàng Thị Siu, thôn Tống Trong, xã Trạm Tấu – nguồn sinh kế giúp gia đình từng bước vươn lên thoát nghèo.

Câu chuyện của gia đình ông Thào A Chư và chị Vàng Thị Siu cho thấy khi được tiếp sức đúng thời điểm, nhiều hộ dân vùng cao đã chủ động nắm bắt cơ hội, từng bước biến nguồn hỗ trợ ban đầu thành tư liệu sản xuất lâu dài, góp phần ổn định sinh kế và hướng tới mục tiêu thoát nghèo bền vững.

Theo ông Bùi Hồng Anh – Phó Chủ tịch UBND xã Trạm Tấu, qua theo dõi cho thấy các hộ dân đều có ý thức chăm sóc, bảo vệ đàn bò, chủ động dự trữ thức ăn và thực hiện phối giống để tăng đàn. Điều này phản ánh sự thay đổi rõ rệt trong nhận thức của người dân về phát triển chăn nuôi.

Tuy nhiên, chăn nuôi đại gia súc cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro như dịch bệnh, biến động giá cả thị trường hoặc hạn chế về nguồn thức ăn. Nếu không được tập huấn kỹ thuật thường xuyên và hỗ trợ kịp thời, nguy cơ tái nghèo vẫn có thể xảy ra. Vì vậy, cùng với sự chủ động của người dân, vai trò đồng hành của chính quyền cơ sở và các cơ quan chuyên môn vẫn rất quan trọng.

Sau những chương trình hỗ trợ, người dân sống ra sao?
Lãnh đạo xã Trạm Tấu thăm mô hình trồng cây dược liệu của gia đình ông Thào A Chư.

Thực tế tại các thôn, bản cho thấy phần lớn các hộ dân đã biết tận dụng chính sách hỗ trợ để xây dựng sinh kế. Người dân tích cực chuyển đổi cây trồng, phát triển chăn nuôi, tham gia đóng góp xây dựng hạ tầng. Những chuyển biến này góp phần làm thay đổi diện mạo kinh tế – xã hội của địa phương.

Tuy vậy, vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là hỗ trợ con giống hay cây trồng, mà còn là làm thế nào để hình thành các chuỗi giá trị sản xuất ổn định; giúp người dân tiếp cận thông tin thị trường, ứng dụng khoa học – kỹ thuật và nâng cao năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình. Khi những yếu tố này được củng cố đồng bộ, sinh kế của người dân mới thực sự bền vững.

Tại Trạm Tấu, nhiều hộ gia đình sau khi nhận hỗ trợ đã từng bước tạo dựng được sinh kế và bắt đầu tự đứng vững. Dù vậy, vẫn còn không ít hộ cần thêm thời gian, nguồn lực và sự hỗ trợ tiếp tục để ổn định cuộc sống. Hành trình thoát nghèo ở vùng cao vì thế vẫn đang tiếp diễn, nhưng những tín hiệu tích cực từ thực tiễn cho thấy hướng đi đã dần rõ ràng hơn.
Nguồn: baolaocai.vn (Đình An st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

Nghị quyết số 08/2026/NQ-HĐND

Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Chỉ Thị số 22-CT/TU

về đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Quyết định số 2490/QĐ-UBND

Về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiều quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 -2030 tỉnh Nghệ An

Thông tư Số 23/2026/TT-BNNMT

Thông tư Hướng dẫn thực hiện một số nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Quyết định số: 26/2026/QĐ-TTg

Quyết định ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm Mỗi xã một sản phẩm

số: 19/2026/QĐ-TTg

Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, xã đạt nông thôn mới hiện đại và tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg

Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỉ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030

1451/QĐ-UBND

Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

827/QĐ-BNNMT

Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại9
  • Tổng lượt truy cập668
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây