13:24:58 10/03/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Giữ nghề truyền thống trong cuộc cạnh tranh mới

Trước sức ép cạnh tranh và những biến động của thị trường, nhiều cơ sở sản xuất truyền thống trên địa bàn vẫn kiên trì tìm cách thích ứng, điều chỉnh phương thức sản xuất, mở rộng kênh tiêu thụ và từng bước tìm ra hướng đi phù hợp để giữ nghề.

Giữ nghề truyền thống trong cuộc cạnh tranh mới
Cơ sở sản xuất bánh khô mè Bà Ly vẫn hoạt động theo chiều hướng phát triển trong nhiều năm qua. Ảnh: PHAN VINH

Vượt qua khó khăn

Những năm gần đây, dù thị trường bánh kẹo phát triển nhanh, tạo nên môi trường cạnh tranh ngày càng lớn, nhưng tại cơ sở bánh khô mè Bà Ly ở phường An Thắng, không khí sản xuất vẫn diễn ra đều đặn. Công việc ở đây nối tiếp nhau qua từng mẻ bánh, tiếp nối nghề làm bánh khô mè đã tồn tại hơn 70 năm qua ba thế hệ trong gia đình chị Phan Thị Ly.

Trước đây, cơ sở đặt tại khu vực trũng thấp ở xã Điện Phương (thị xã Điện Bàn cũ), nơi mỗi mùa mưa lũ đều đối diện nguy cơ ngập nước. Nhiều thời điểm, việc sản xuất bị gián đoạn do nước dâng, nguyên liệu và máy móc phải di chuyển, bảo quản tạm bợ.

Năm 2024, sau nhiều lần cân nhắc, chị Ly quyết định chuyển cơ sở lên vị trí mới tại phường An Thắng, nơi cao ráo hơn và thuận lợi cho sản xuất lâu dài. Tuy vậy, việc di dời kéo theo nhiều chi phí lớn, trong khi thị trường đặc sản truyền thống vốn đã cạnh tranh. “Tôi đắn đo rất nhiều, vì đầu tư cho cơ sở mới không phải quyết định dễ dàng. Nhưng nếu không thay đổi thì rất khó duy trì nghề lâu dài”, chị Ly chia sẻ.

Theo chị Ly, đặc thù của sản phẩm truyền thống khiến việc mở rộng thị trường gặp nhiều giới hạn. Bánh khô mè từ lâu quen thuộc với người dân xứ Quảng, song tại nhiều địa phương khác, sản phẩm này vẫn còn khá xa lạ.

Việc tiêu thụ vì thế chủ yếu tập trung ở khu vực miền Trung, đặc biệt trong những dịp lễ, Tết khi nhu cầu quà biếu tăng cao. Giá thành sản phẩm cũng là một thách thức không nhỏ. So với nhiều mặt hàng cùng phân khúc trên thị trường, bánh khô mè của cơ sở có mức giá cao hơn do sử dụng nguyên liệu sạch và quy trình sản xuất tỉ mỉ.

“Nguyên liệu trên thị trường có nhiều loại, nếu muốn giảm chi phí thì vẫn có thể tìm nguồn rẻ hơn. Nhưng mình làm nghề lâu năm nên hiểu rằng chất lượng là yếu tố quyết định. Bánh khô mè là món quà quê của cha ông để lại nên khi làm ra sản phẩm, mình luôn muốn giữ đúng hương vị và sự tử tế trong từng mẻ bánh”, chị Ly nói.

Giữ nghề truyền thống trong cuộc cạnh tranh mới
Cơ sở bánh khô mè Bà Ly đầu tư thiết bị máy móc hiện đại để tăng năng suất. Ảnh: PHAN VINH

Tại xã Đức Phú, nơi Hợp tác xã Chè Đức Phú do ông Nguyễn Văn Hùng thành lập đang nỗ lực duy trì thương hiệu trà từng nổi tiếng một thời. Nghề làm trà ở vùng này bắt đầu từ rất sớm. Có giai đoạn, cả vùng Đức Phú sống cùng cây chè, những đồi chè xanh trải dài trên sườn đồi. Tuy nhiên, khi thị trường trà ngày càng đa dạng với nhiều thương hiệu mới, trà Đức Phú dần mất lợi thế cạnh tranh.

“Hiện sản phẩm trà của địa phương bán khoảng 250 nghìn đồng/kg, trong khi nhiều loại trà khác chỉ khoảng 100 nghìn đồng/kg. Dù vậy, với hơn 50ha diện tích trồng chè, hợp tác xã vẫn duy trì sản xuất bằng những thiết bị cơ bản như máy vò, máy sao và máy sấy, vừa chế biến trà mang thương hiệu Đức Phú, vừa gia công cho một số đơn vị khác để tạo nguồn thu ổn định”, ông Hùng nói.

Tìm hướng đi mới

Cùng với việc duy trì nghề truyền thống, nhiều cơ sở sản xuất cũng từng bước điều chỉnh phương thức hoạt động để thích ứng với những thay đổi của thị trường. Từ khâu nguyên liệu, quy trình sản xuất đến cách tiếp cận khách hàng đều được cân nhắc nhằm giữ chất lượng sản phẩm và phù hợp nhu cầu tiêu dùng.

Cơ sở bánh khô mè Bà Ly mỗi năm sử dụng gần 15 tấn mè, hơn 4 tấn nếp và khoảng 12 tấn gạo. Sản phẩm không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn được một số khách hàng nước ngoài quan tâm, đặc biệt là những người ưa chuộng các món làm từ mè.

Theo chị Phan Thị Ly, để giữ được hương vị đặc trưng của bánh, nguyên liệu phải được chọn lựa kỹ và xử lý ngay sau khi thu hoạch. Những năm gần đây, cơ sở liên kết với một số hộ dân vùng Gò Nổi trồng mè dọc sông Thu Bồn theo hướng sạch.

Giữ nghề truyền thống trong cuộc cạnh tranh mới

“Cơ sở đã đầu tư hơn 1 tỷ đồng để cải tiến một số công đoạn nhằm nâng năng suất và bảo đảm điều kiện vệ sinh. Tuy nhiên, nhiều bước quan trọng vẫn được giữ theo phương pháp truyền thống, từ rang mè, nấu đường đến tráng và nướng bánh. Chính sự tỉ mỉ trong từng công đoạn đã tạo nên hương vị riêng của bánh khô mè”, chị Ly nói.

Ông Nguyễn Văn Hùng, Giám đốc Hợp tác xã Chè Đức Phú cho biết mỗi năm hợp tác xã sản xuất khoảng 5 tạ trà thành phẩm đưa ra thị trường, trong khi lượng chè tươi tại địa phương có thể đạt tới 10 tấn.

Với tỷ lệ trung bình 5-6kg chè tươi mới chế biến được 1kg trà, dư địa phát triển của ngành trà Đức Phú vẫn còn khá lớn. Trước sức ép cạnh tranh của thị trường trà, hợp tác xã lựa chọn quay lại với phương thức chế biến truyền thống, tập trung vào các dòng trà chất lượng cao.

Giữ nghề truyền thống trong cuộc cạnh tranh mới
Ông Nguyễn Văn Hùng, Giám đốc Hợp tác xã Chè Đức Phú chăm sóc những cây chè có tuổi đời hàng trăm năm tuổi. Ảnh: PHAN VINH

“Chi phí sản xuất theo cách này khá lớn, nhưng đó cũng là lợi thế của mình. Ở Đức Phú vẫn còn nhiều nghệ nhân biết kỹ thuật lên men và sao trà thủ công, điều mà nhiều nơi hiện nay không còn giữ được. Hợp tác xã cũng tìm kiếm cơ hội hợp tác với doanh nghiệp phân phối và chú trọng đào tạo lớp trẻ kế nghiệp. Nhiều cây chè cổ thụ hơn 100 năm tuổi đang được chăm sóc, phục hồi để tạo giá trị đặc trưng của vùng trà”, ông Hùng cho hay.

Tại làng nghề Quán Hương (xã Thăng Bình) nghệ nhân Võ Tấn Hiếu cũng chủ động điều chỉnh phương thức sản xuất. Ngoài cải tiến mẫu mã, ông thử nghiệm kết hợp nhiều nguyên liệu tự nhiên như bột lá bời lời, quế và trầm để tạo mùi thơm dịu, giúp cây hương cháy đều và giữ hương lâu hơn.

Những năm gần đây, sản phẩm hương của làng nghề đã được đưa sang thị trường Lào và đang tiếp tục kết nối với một số thị trường châu Á, góp phần giúp hoạt động sản xuất dần ổn định và tạo thêm việc làm cho lao động địa phương.

Đồng bộ nhiều giải pháp

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, quá trình phát triển các ngành nghề nông thôn cần đặt người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp vào vai trò trung tâm. Khi các cơ sở chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, tính toán thị trường và duy trì chất lượng sản phẩm, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước mới có thể phát huy hiệu quả lâu dài.

Thời gian qua, nhiều chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn đã được triển khai, từ hỗ trợ máy móc, thiết bị đến đào tạo nghề và xúc tiến thương mại. Tuy nhiên, để các chương trình này thực sự phát huy hiệu quả, việc hướng dẫn và cung cấp thông tin cho người dân cần được thực hiện thường xuyên hơn. Không ít cơ sở sản xuất nhỏ vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận các thủ tục, quy trình hoặc nguồn vốn hỗ trợ.

Một vấn đề khác được đặt ra là việc quy hoạch các cụm ngành nghề, làng nghề tập trung. Khi có quỹ đất ổn định và quy hoạch rõ ràng, các cơ sở sản xuất sẽ thuận lợi hơn trong việc đầu tư máy móc, mở rộng quy mô và tổ chức lại hoạt động sản xuất. Đồng thời việc bố trí các khu sản xuất tập trung cũng giúp công tác quản lý môi trường và hạ tầng thuận lợi hơn.

Thành phố cũng định hướng gắn phát triển ngành nghề nông thôn, nghề truyền thống với việc xây dựng thương hiệu sản phẩm và phát triển chương trình OCOP. Khi sản phẩm truyền thống được đưa vào chuỗi giá trị từ sản xuất đến quảng bá và tiêu thụ, khả năng tiếp cận thị trường sẽ được cải thiện, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm.

Nguồn: baodanang.vn (Đặng Hòa st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

320/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

319/QĐ-TTg

Phê duyệt Đề án về chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử đến năm 2025

263/QĐ-TTg

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025

18/2022/QĐ-TTg

Ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại0
  • Tổng lượt truy cập17
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây