Chúng tôi đến thôn Bản Toòng,xã Bản Hồ,tỉnh Lào Caivào một ngày trước Tết Nguyên đán Bính Ngọ. Từ trung tâm xã Bản Hồ, hành trình hơn 20km là một cuộc thử thách lòng người. Những đoạn đường vắt vẻo bên sườn núi, một bên là vách dựng đứng, một bên là vực sâu hun hút hàng trăm mét. Do thiên tai, nhiều đoạn đã sạt lở, xuống cấp nghiêm trọng, khiến giao thông càng thêm trắc trở.

Nhiều thôn bản ở xã Bản Hồ có đường giao thông đi lại khó khăn. Ảnh:Thanh Tiến.
Theo chân anh Giàng A Du, trưởng thôn Bản Toòng, chúng tôi tìm đến ngôi nhà của gia đình anh Giàng A Kháng nằm cheo leo bên sườn núi. Giữa cái nắng hanh hao ngày cuối năm, khung cảnh tiêu điều của gia đình vừa thoát nghèo hiện ra, thiếu thốn đủ bề.
Bước chân vào căn nhà nửa xây, nửa gỗ (phần tường nhà xây bằng gạch đỏ, cột kèo toàn bộ bằng gỗ, mái lợp pro xi măng) trị giá 80 triệu đồng từ nguồn hỗ trợ của Nhà nước, thứ đập vào mắt người ta không phải là sự tươm tất của những ngày giáp Tết mà là sự trống rỗng đến bất ngờ. Những bộ quần áo cũ kỹ vắt tùng tằng khắp nơi. Ngay sát cửa là chiếc giường nhỏ sập sệ, đó là chỗ ngủ của hai đứa con lớn vào mùa hè. Phía góc nhà, chiếc giường lớn hơn được quây kín bằng tấm ghi đô rách thủng lỗ chỗ – là “ổ nằm” của cả 5 con người nhà anh Kháng để chống chọi lại cái rét cắt da của vùng cao khi mùa đông về.

Ngôi nhà nửa xây, nửa gỗ của gia đình anh Kháng. Ảnh:Thanh Tiến.
Nghịch lý hiện hữu ngay ở góc nhà – chiếc téc nhựa – vật dụng được hỗ trợ bởi Chương trình mục tiêu Quốc gia cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi đáng lẽ dùng để chứa nước sạch, giờ đây được anh Kháng dùng chứa ngô hạt sau vụ thu hoạch.

Mặc dù đã thoát nghèo nhưng trong nhà vẫn không có đồ đạc gì có giá trị. Ảnh:Thanh Tiến.
Ngay cả căn bếp cũng chỉ là một khoảnh đất vài mét vuông bên hiên nhà, được quây tạm bợ bằng vách nứa và mấy tấm pro xi măng vỡ. Ngay đầu cổng, nơi có vòi nước sạch được Nhà nước hỗ trợ kéo về, cũng chính là “nhà tắm lộ thiên” của cả gia đình. Vợ anh Kháng thường phải đợi đến đêm tối mới dám ra đây tắm.

Căn bếp tạm bợ nằm ngay trước hiên nhà. Ảnh:Thanh Tiến.
Bản Toòng trước đây thuộc xã Thanh Bình cũ (thuộc thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai) được thành lập năm 2020 trên cơ sở sáp nhập xã Thanh Kim và xã Bản Phùng. Đây là địa phương đặc biệt khó khăn (vùng III) với tỷ lệ hộ nghèo cao, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ. Đến cuối năm 2024, xã Thanh Bình được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.
Theo chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính của Nhà nước, tháng 7/2025, xã Thanh Bình tiếp tục được sáp nhập với xã Bản Hồ để thành lập xã Bản Hồ mới. Tuy nhiên cái danh hiệu “nông thôn mới” từ trước đó dường như chưa kịp mang theo sự thay đổi nào cho những phận người như anh Kháng cùng cảnh thiếu thốn bủa vây.
Qua rà soát của chính quyền, cuối năm 2024, gia đình anh Kháng vào diện hộ thoát nghèo. Đồng nghĩa gia đình anh không còn được hỗ trợ thẻ bảo hiểm y tế những lúc ốm đau, bệnh tật và một số tiêu chuẩn khác nữa. Thoát nghèo cũng đồng nghĩa cuộc sống đã khá lên. Tuy nhiên đến nay, vẫn chưa thấy có gì sáng sủa, khấm khá hơn. Một hộ gia đình mà tiền điện mỗi tháng không quá 30.000 đồng, chỉ đủ thắp một bóng điện và sạc điện thoại lại đủ điều kiện thoát nghèo?!

Chiếc giường ngủ của 2 đứa con lớn nhà anh Kháng. Ảnh:Thanh Tiến.
Giáp Tết, nhưng trong căn nhà này vẫn chưa có lấy một chút hương vị mùa xuân. Khi được hỏi về việc sắm sửa, Kháng chỉ biết cười gượng: “Chưa có tiền đâu anh ạ, không có thì cũng chịu thôi. Chẳng biết làm sao cả”. Hy vọng cuối cùng đặt vào chuyến đi làm thuê dưới Hà Nội của Kháng, nhưng cái nghèo dường như luôn đi đôi với cái “eo”. Căn bệnh trào ngược dạ dày hành hạ khiến anh không chịu nổi “nhiệt”, phải bắt xe quay về bản sớm để uống thuốc lá chứ làm gì có tiền mà mua thuốc tây, chưa nói gì chi phí đi khám…

Đây là “ổ nằm” của cả nhà 5 người tròng mùa đông. Ảnh:Thanh Tiến.
Giảm nghèo nhanh để xây dựng nông thôn mới
Thoát nghèo là mục tiêu tốt đẹp, nhưng với người dân ở Bản Toòng như anh Kháng, thì “hữu danh vô thực”. Khi nguồn gạo ăn hàng ngày còn phải lo từng bữa, khi cái Tết đã sát vách mà túi vẫn rỗng không, thì danh hiệu “nông thôn mới” hay “hộ thoát nghèo” kia có ý nghĩa gì.
Rời căn nhà của anh Kháng ở khu cộng đồng người Mông sinh sống, anh Giàng A Du về nhà lấy xe máy chở tôi sang xóm Toòng Dao (nơi người Dao sinh sống) bởi con đường đến đó nhỏ hẹp, đã xuống cấp do mưa lũ. Anh Du, trưởng thôn Bản Toòng là người sinh ra và lớn lên ngay tại mảnh đất Toòng Dao nên rất nắm rõ từng hoàn cảnh của 56 hộ trong thôn.

Những đoạn đường bị thiên tai tàn phá vẫn chưa kịp khắc phục. Ảnh:Thanh Tiến.
Vừa chở tôi trên chiếc xe máy cà tàng qua đoạn đường đầy khó nhọc, anh Du vừa kể về những khó khăn của người dân trong thôn. Khi nhắc đến hai chữ “thoát nghèo”, giọng anh Du chùng xuống, chất chứa những nỗi niềm khó tả về một thực tại đang bị che lấp bởi các chỉ tiêu thi đua.
Xã Thanh Bình đã về đích nông thôn mới từ cuối năm 2024, được công bố và trao quyết định vào tháng 4/2025. Theo lời anh Du, cũng chính vì mục tiêu này, việc giảm nghèo diễn ra nhanh hơn. Từ một thôn đặc biệt khó khăn, Bản Toòng giờ chỉ còn 14 hộ nghèo. Hơn 70% số hộ dân đã trở thành hộ khá giả. Nghịch lý thay, sự “khá lên” này không đến từ sự thay đổi trong sản xuất hay thu nhập.

Dù đã được công nhận thôn nông thôn mới nhưng nhiều hộ dân vẫn có cuộc sống khó khăn. Ảnh:Thanh Tiến.
“Năm 2024 là năm thoát nghèo nhiều nhất, vì xã phấn đấu đạt nông thôn mới nên chỉ tiêu giao về thôn cũng nhiều. Chỉ tiêu giao rồi nên bà con phải thoát hết nghèo thôi, không thoát nghèo làm sao đạt nông thôn mới”, anh Du thật thà chia sẻ.
Để hỗ trợ người dân thoát nghèo, hơn chục hộ đã được hỗ trợ từ 10 – 20 triệu đồng để sửa sang nhà cửa. Bên ngoài, những ngôi nhà có vẻ như kiên cố, khang trang, che đi cái nghèo cũ kỹ. Nhưng đằng sau đó, sinh kế của người dân vẫn dậm chân tại chỗ. Khi trâu bò không còn chỗ chăn thả, diện tích canh tác hẹp, bà con chỉ biết trông chờ vào cây ngô, cây lúa là nguồn sinh kế chính. Những ai muốn có tiền tiêu, muốn sắm Tết, chỉ còn cách duy nhất là rời bản đi làm thuê công việc nặng nhọc ở khắp nơi.
Đường sá khó khăn, thiếu nước sạch
Cái danh hiệu nông thôn mới càng hữu danh vô thực bởi đường đi lối lại vẫn là đất đá, chỉ cần một trận mưa là chia cắt, người dân phải đi bộ vài cây số để ra ngoài. Nhưng giao thông chưa phải là nỗi ám ảnh lớn nhất của người dân nơi đây, mà là nước sạch. Dù Nhà nước đã đầu tư hệ thống bể chứa và đường ống nhưng nguồn nước chưa đảm bảo đủ cho bà con sử dụng trong sinh hoạt.

Ở Bản Hồ nhiều khu vực thiếu nước sinh hoạt. Ảnh:Thanh Tiến.
“Ống nước dẫn về cả thôn dùng chung, mùa hanh khô là tịt ngóm. Buổi chiều muốn có nước dùng thì sáng phải tranh nhau đi tích. Nhiều lúc hết hẳn, bà con lại phải lạch cạch dùng xe máy chở từng can nước từ dưới khe suối về,” anh Du chia sẻ thêm.
Ngay cả điểm trường tiểu học và mầm non trong thôn cũng thường xuyên rơi vào cảnh khát nước, phải đi xin từng sô từ các hộ dân ở đầu nguồn. Cái nghịch lý “đầu nguồn có nước, cuối nguồn khô hạn” đang diễn ra phổ biến, đặc biệt là dịp sau Tết Nguyên đán khi người dân cần nước để gieo cấy lúa thì việc thiếu nước sinh hoạt càng nghiêm trọng.
Thấm thía cảnh… thoát nghèo
Rời Bản Toòng, chúng tôi tiếp tục đến thăm thôn Phùng Dao, thôn có 100% người Dao đỏ sinh sống. Anh Chảo Vạn Nhàn, người uy tín của thôn, đưa chúng tôi đi thăm một số gia đình có hoàn cảnh khó khăn nhất. Nếu như ở những nơi khác, tin vui thoát khỏi vùng đặc biệt khó khăn thường đi kèm với niềm tự hào, thì tại Phùng Dao, nó lại mang theo nỗi lo âu về việc thiếu hụt những nguồn hỗ trợ thiết thực.
Theo anh Nhàn, cả thôn có 41 hộ dân, cuối năm 2023 còn 20 hộ nghèo. Trong năm 2024, xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới, cả thôn giảm 12 hộ nghèo. Trong năm 2025 tiếp tục giảm 4 hộ nghèo. Đến nay, thôn chỉ còn còn 5 hộ nghèo và 3 hộ cận nghèo. “Bắt buộc phải thoát để đạt chỉ tiêu nông thôn mới thôi, chứ thực tế đi vào nhiều nhà xem, chẳng có mấy thứ giá trị trên một triệu đồng đâu,” anh Nhàn nói.

Bà Pham trong ngôi nhà chưa đầy 30m2. Ảnh:Thanh Tiến.
Để có được vẻ ngoài khang trang, nhiều hộ dân được Nhà nước hỗ trợ xây dựng mới hoặc sửa chữa nhà ở. Ngoài ra, họ đã phải vay thêm từ ngân hàng chính sách xã hội để dựng nhà. Giờ đây, khi mái nhà đã tươm tất hơn một chút, cũng là lúc họ thấm thía cảnh thoát nghèo. Những người dân vốn chỉ biết đến cây ngô, cây lúa nương mỗi năm một vụ, nay phải còng lưng gánh thêm những khoản nợ ngân hàng mà không biết lấy nguồn đâu để trả.
Anh Nhàn dẫn tôi đến thăm nhà bà Chảo Mùi Pham, một trong những hộ nghèo bền vững nhất của thôn. Gọi là nhà, nhưng thực chất đó là một không gian chật hẹp chỉ vỏn vẹn chưa đầy 30m2.

Bà Pham và người con trai tàn tật bên bữa cơm trưa. Ảnh:Thanh Tiến.
Bà Pham một mình nuôi đứa con tàn tật. Đứa con lớn nhưng xương cốt mềm yếu, không thể lao động. Trong nhà có chiếc ti vi cũ, món đồ để biết đến thế giới bên ngoài, được Nhà nước hỗ trợ từ nhiều năm trước, nay đã hỏng hóc, nằm phủ bụi dưới ánh đèn điện lờ mờ.
Điều khiến anh Nhàn và bà con Phùng Dao lo lắng nhất không phải là cái đói trước mắt, mà là việc không còn các chính sách hỗ trợ khi xã và thôn không còn nằm trong diện đặc biệt khó khăn. Bảo hiểm y tế không còn được cấp miễn phí, với những người dân cả đời không có tiền mặt, việc nộp tiền viện phí để được vào cổng bệnh viện là một rào cản quá lớn. “Hết chính sách này, ốm chắc chỉ biết nằm nhà mua thuốc uống được đến đâu hay đến đó thôi,” anh Nhàn ngậm ngùi.

Bữa cơm đạm bạc trong một ngày giáp Tết. Ảnh:Thanh Tiến.
Chiếc “phao cứu sinh” từ các Chương trình mục tiêu quốc gia vốn là chỗ dựa duy nhất để người dân dám đi viện khi đau ốm, dám đầu tư cho tương lai các con… Nay, chiếc phao ấy đang dần bị thu hồi để đổi lấy danh hiệu nông thôn mới.

Khi thôn, xã thoát khỏi vùng đặc biệt khó khăn ai không mấy ai vui mà chỉ có những trăn trở, lo lắng. Ảnh:Thanh Tiến.
Nhìn ánh mắt xa xăm của anh Nhàn, vẻ mặt ngơ ngác của đứa con tàn tật nhà bà Pham, căn nhà trống huếch, chiếc giường xập xệ và “nhà tắm lộ thiên” của nhà Giàng A Kháng,… thiết nghĩ hộ dân thoát nghèo, xã nông thôn mới mà sinh kế chưa ổn định, hạ tầng chưa đồng bộ thì danh hiệu ấy có ý nghĩa gì. Bà con ở đó vẫn nghèo, nay thêm phần đơn độc vì không còn được hưởng các chính sách hỗ trợ cho vùng đặc biệt khó khăn thì thật đáng trăn trở cho mảnh đất vùng non cao cách trở này.



















