11:50:31 30/05/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Khoai tây được mùa, được bao tiêu, nông dân phấn khởi

Tận dụng đất soi bãi, nông dân xã Hồng Châu (Hải Phòng) chuyển sang trồng khoai tây Marabel theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, thu nhập cao và không lo biến động thị trường.

Những ngày đầu năm Bính Ngọ 2026, không khí thu hoạch khoai tây tại xã Hồng Châu, TP Hải Phòng diễn ra nhộn nhịp, bất chấp trời rải rác mưa. Đã gần trưa, trên diện tích 15 mẫu đang thu hoạch, anh Nguyễn Quang Tuân, trú tại thôn 2 phấn khởi cho biết khoai tâynăm nay được mùa, năng suất đạt trung bình 1 – 1,2 tấn/sào (360m2), toàn bộ sản lượng sau khi thu hoạch được doanh nghiệp bao tiêu.

Người dân phấn khởi thu hoạch khoai tây. Ảnh:Đinh Mười.

“Trước đây tôi chuyên trồng cà rốt, dưa lê, dưa hấu nhưng giá cả bấp bênh, phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái. Chuyển sang khoai tây liên kết, doanh nghiệp không chỉ hỗ trợ giống, phân bón mà còn bao tiêu toàn bộ sản phẩm với giá ổn định”, anh Tuân chia sẻ.

Cũng theo anh Tuân, khoai tây rất dễ chăm sóc, ít sâu bệnh và chịu được thời tiết khắc nghiệt hơn các loại rau màu khác. Cùng với đó, nhờ được doanh nghiệp hỗ trợ từ giống, phân bón, kỹ thuật canh tác nên rủi ro được hạn chế. Vụ tới, anh Tuân dự kiến sẽ mở rộng diện tích trồng khoai tây ra 40 – 50 mẫu.

Khu vực đất soi bãi tại xã Hồng Châu vụ đông năm nay không khí lao động rộn ràng lạ thường. Người người, nhà nhà tập trung lao động hăng say, nhanh chóng thu hoạch thành quảvụ đôngđể kịp vào vụ xuân.

Khoai tây được doanh nghiệp ký hợp đồng thu mua từ đầu vụ. Ảnh:Đinh Mười.

Theo chính quyền địa phương, vụ đông năm nay nhiều hộ dân trên địa bàn xã đã mạnh dạn chuyển đổi những cây trồng truyền thống sang trồng khoai tây. Khác với việc “tự sản tự tiêu” trước đây, toàn bộ diện tích khoai tây vụ đông được liên kết sản xuất chặt chẽ giữa doanh nghiệp và người dân từ khâu cung ứng vật tư, hướng dẫn kỹ thuật đến bao tiêu sản phẩm.

Việc chuyển đổi sang phương thức đặt hàng giúp nông dân chuyên nghiệp hóa khâu canh tác, đảm bảo chất lượng củ đồng đều để phục vụ chế biến công nghiệp.

Ông Bùi Kiên Cường – Chủ tịch Công ty Nông nghiệp Vàng – đơn vị trực tiếp liên kết với bà con cho biết, Công ty không chỉ cung cấp giống, phân bón mà còn cử cán bộ kỹ thuật bám sát đồng ruộng.

Bà Lương Thị Kiểm (thứ 2 từ trái sang) – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng kiểm tra thực tế hiệu quả mô hình sản xuất khoai tây tại xã Hồng Châu. Ảnh:Đinh Mười.

“Chúng tôi cam kết thu mua toàn bộ sản phẩm với mức giá cố định ngay từ đầu vụ. Điều này giúp người dân yên tâm sản xuất, không còn nỗi lo giá cả bấp bênh khi vào chính vụ thu hoạch”, ông Cường cho hay.

Từ hiệu quả kinh tế đã rõ rệt, ông Phạm Văn Tuân – Phó Chủ tịch UBND xã Hồng Châu cho biết địa phương sẽ có những bước đi cụ thể để mở rộng mô hìnhtrồng khoai tây. Tuy nhiên, địa phương vẫn cần thêm những chính sách hỗ trợ dài hơi và phải đảm bảo tính đồng bộ về giống và quy trình kỹ thuật.

“Diện tích đất soi bãi của địa phương có hơn 30ha có thể phát triển mô hình trồng khoai tây. Chúng tôi mong Thành phố tiếp tục hỗ trợ về khâu giống và chuyển giao công nghệ để nâng cao hơn nữa năng suất. Khi có sự đồng hành của doanh nghiệp và sự hỗ trợ từ ngành nông nghiệp, người dân sẽ tự tin làm giàu trên chính mảnh đất quê hương”, ông Tuân bày tỏ.

Khoai tây vụ đông năm nay tại xã Hồng Châu được đánh giá được mùa. Ảnh:Đinh Mười.

Bà Lương Thị Kiểm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng đánh giá cao sự thành công của mô hình liên kết sản xuất giống khoai tây Marabel trên đồng đất xã Hồng Châu. Đây là giống khoai tây có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất đạt 25 – 30 tấn/ha, ruột vàng, đặc biệt phù hợp cho cả ăn tươi lẫn chế biến công nghiệp.

Theo bà Kiểm, mô hình tại xã Hồng Châu là câu trả lời thuyết phục cho những định hướng đúng đắn của Thành phố trong việc phát triển cánh đồng lớn và cơ cấu lại sản xuất vụ đông. Thành công của mô hình không chỉ mang lại thu nhập cao cho người dân mà còn mở ra triển vọng đưa khoai tây trở thành mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Hải Phòng, đóng góp vào sự phát triển bền vững của kinh tế nông thôn.

“Sở đang khuyến khích mở rộng các mô hình liên kết 3 bên gồm nhà nước, doanh nghiệp và nông dân. Trong đó, doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt về công nghệ và đầu ra, còn nhà nước hỗ trợ về cơ chế, chính sách để tạo ra những vùng nguyên liệu tập trung, chất lượng cao”, bà Kiểm nhấn mạnh.

Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn (Như Quỳnh st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

Số 23/2026/TT-BNNMT

Thông tư Hướng dẫn thực hiện một số nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

số: 23/2026/QĐ-TTg

Quyết định ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm Mỗi xã một sản phẩm

số: 19/2026/QĐ-TTg

Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, xã đạt nông thôn mới hiện đại và tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

số 16/2026/QĐ-TTg

Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỉ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030

1451/QĐ-UBND

Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

827/QĐ-BNNMT

Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại3
  • Tổng lượt truy cập151
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây