06:28:54 02/02/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Giảm nghèo ‘phiên bản 4.0’: Chuyển từ dàn trải sang đầu tư theo địa chỉ

Tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam đã giảm xuống mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ, nhưng bài toán giảm nghèo bước sang giai đoạn mới còn nhiều yếu tố phức tạp hơn.

Nghèo không còn phân bố dàn trải mà co lại thành những “lõi nghèo” dai dẳng, gắn với hạn chế về tiếp cận dịch vụ, năng lực thích ứng và rủi ro tái nghèo ngày càng lớn.

Trong bối cảnh đó, chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026-2035 cùng các nghị quyết mới của Quốc hội và Chính phủ đang định hình một cách tiếp cận khác, chuyển từ hỗ trợ sang đầu tư, từ mục tiêu giảm số lượng sang nâng chất lượng sống, từ chính sách hành chính sang chính sách dựa trên năng lực.

Giảm nghèo ‘phiên bản 4.0’: Chuyển từ dàn trải sang đầu tư theo địa chỉ

Tỷ lệ hộ nghèo cả nước trong 5 năm đã giảm từ hơn 5% xuống khoảng 1% vào 2025. Ảnh:NNMT.

Khi giảm nghèo không thể tách rời nông thôn mới

Theo TS Nguyễn Đình Hòa, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), chính sách giảm nghèo hiện nay đã đi qua nhiều “phiên bản”. Giai đoạn đầu là hỗ trợ trực tiếp để người nghèo vượt qua thiếu hụt trước mắt. Giai đoạn tiếp theo là trao sinh kế, giúp người dân có “cần câu”. Sau đó là hỗ trợ để người nghèo tự tổ chức sản xuất, tự tạo thu nhập. Đến giai đoạn hiện nay, ông cho rằng có thể gọi là “phiên bản 4.0”, khi mục tiêu không chỉ là thoát nghèo cho từng hộ mà là tạo năng lực và khát vọng làm giàu không chỉ cho cá nhân và những người xung quan, cho cộng đồng.

Cách tiếp cận này được đặt trong bối cảnh các mục tiêu phát triển mới mà Đảng xác định từ Đại hội XIII và tiếp tục nhấn mạnh trong các định hướng sau đó. Nghị quyết số 257/2025/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết số 424/2025/NQ-CP của Chính phủ không chỉ là các văn bản điều hành hay phân bổ nguồn lực, mà còn phản ánh sự chuyển dịch tư duy. Giảm nghèo không còn là chính sách “bù đắp” mà trở thành một cấu phần của chiến lược phát triển.

Điểm thay đổi quan trọng là việc giảm nghèo chuyển từ cách tiếp cận “hỗ trợ” sang “đầu tư phát triển” và việc gắn chặt chính sách giảm nghèo với Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Trong khi nông thôn mới hướng tới nâng mặt bằng phát triển chung của cộng đồng, thì giảm nghèo tập trung vào nhóm yếu thế nhất trong chính cộng đồng đó. “Người nghèo không thể thoát nghèo bền vững nếu họ sống trong một môi trường thiếu hạ tầng, dịch vụ và cơ hội”, TS Hòa lưu ý. Đó cũng là lý do để hai chương trình này cùng nằm trong tổng thể chung ở giai đoạn mới và vận hành theo logic cộng sinh. Một xã đạt chuẩn nông thôn mới nhưng vẫn còn nhiều hộ nghèo sẽ bộc lộ những khoảng trống về tính bền vững. Ngược lại, khi mặt bằng cộng đồng được nâng lên, khả năng thoát nghèo của từng hộ sẽ cao hơn và ổn định hơn.

Khác biệt mang tính bản lề được tạo ra từ đó, khi chuyển từ phân bổ dàn trải sang tiếp cận theo ‘địa chỉ’. Khi tỷ lệ hộ nghèo đã giảm xuống mức thấp, nghèo không còn là hiện tượng phổ biến mà co lại thành các ‘lõi nghèo’ có tính cấu trúc, tập trung ở vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa – nơi các hạn chế về hạ tầng, thị trường và dịch vụ xã hội khiến người dân khó có khả năng tự thoát nghèo. Trong bối cảnh ấy, giảm nghèo không thể chỉ dựa vào các gói hỗ trợ ngắn hạn, mà đòi hỏi vai trò đầu tư dài hạn và có trọng tâm của Nhà nước để tạo nền tảng phát triển.

Giảm nghèo ‘phiên bản 4.0’: Chuyển từ dàn trải sang đầu tư theo địa chỉ

Ngày tết của người dân Hà Nhì ở biên giới. Ảnh:NNMT.

Chuẩn nghèo đa chiều và những thiếu hụt không nằm trên bảng thu nhập

Chuẩn nghèo giai đoạn 2026-2035 tiếp tục mở rộng cách tiếp cận đa chiều, bổ sung và điều chỉnh các chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội. TS Nguyễn Đình Hòa chỉ ra, thách thức lớn nhất không nằm ở việc ban hành tiêu chí, mà ở chỗ nhận diện đúng những thiếu hụt “khó thấy nhưng mang tính quyết định”.

Một trong những yếu tố như vậy là kỹ năng thích ứng và năng lực số. Dù hạ tầng viễn thông đã phủ rộng, khả năng sử dụng của người dân lại rất khác nhau. Có nơi, điện thoại thông minh trở thành công cụ tiếp cận thị trường lao động, dịch vụ hành chính công, thậm chí điều khiển sản xuất nông nghiệp. Nhưng cũng có nơi, thiết bị chỉ phục vụ nhu cầu giải trí, không tạo ra giá trị kinh tế. Theo chuyên gia của Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, nếu chỉ đo lường việc “có hay không” phương tiện, chính sách sẽ bỏ sót bản chất của nghèo trong bối cảnh chuyển đổi số.

Bên cạnh đó là khả năng tiếp cận thông tin và tham gia các mạng lưới xã hội chính thống. Ở nông thôn, việc tham gia mạng lưới xã hội giúp người nghèo có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận các nguồn lực, tiếp cận thị trường và thông tin thị trường . Ngược lại, những mối quan hệ rời rạc, không gắn với thể chế ít mang lại cơ hội. Ông cho rằng, nghèo hiện nay không chỉ là thiếu tiền mà còn là thiếu “kênh” để chuyển hóa thông tin thành sinh kế.

Khi tỷ lệ hộ nghèo đã giảm xuống thấp, nhiều dạng nghèo dễ bị che khuất nếu chỉ nhìn vào thu nhập. Đó là nghèo kinh niên ở các vùng “cheo leo bên vách núi”, nơi người dân gần như bị cô lập khỏi thị trường và thông tin. Đó là nghèo đô thị, với các khu ngụ cư tạm bợ, điều kiện sống kém, rủi ro dịch bệnh cao, nơi thu nhập không phản ánh đầy đủ chất lượng sống. Ngoài ra còn có nghèo về văn hóa, thể hiện ở sự thiếu tự tin, kỹ năng giao tiếp và khả năng thương lượng yếu, khiến người nghèo dễ bị ép giá và khó tham gia sâu vào chuỗi giá trị.

Những dạng thiếu hụt này cho thấy, nếu chỉ dựa vào tiêu chí thu nhập, chính sách giảm nghèo có thể bỏ sót các rủi ro dài hạn. Người dân có thể tạm thời vượt chuẩn nghèo nhưng vẫn đứng ngoài các mạng lưới thị trường, dịch vụ và thông tin, trong khi đó lại là những yếu tố quyết định khả năng đứng vững trước biến động. Chuẩn nghèo đa chiều, vì thế, cần được “tái xây dựng” nhằm đo lường chính xác hơn tình trạng nghèo, đồng thời đóng vai trò định hướng chính sách, buộc các chương trình giảm nghèo phải chuyển từ xử lý “kết quả” sang đầu tư vào năng lực và khả năng chống chịu của người dân.

Giảm nghèo ‘phiên bản 4.0’: Chuyển từ dàn trải sang đầu tư theo địa chỉ

Lễ hội mừng nhà rông mới của bà con Tây Nguyên. Ảnh:NNMT.

Từ giám sát hành chính sang giám sát năng lực

Từ việc nhận diện những dạng nghèo dễ bị che khuất nếu chỉ nhìn vào thu nhập, chuẩn nghèo đa chiều đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận trong giám sát và thiết kế chính sách. TS Nguyễn Đình Hòa nhìn nhận, giảm nghèo trong giai đoạn tới không thể chỉ được đánh giá bằng việc “ra khỏi danh sách”, mà phải dựa trên khả năng chống chịu trước rủi ro và duy trì sinh kế. Nếu mỗi đợt thiên tai hay biến động thị trường đều khiến người dân quay về “điểm xuất phát”, thì giảm nghèo mới chỉ đạt về hình thức, chưa thực chất.

Thực tiễn triển khai cho thấy vẫn còn nhiều thách thức, từ sự chồng chéo chính sách đến hạn chế về năng lực thực thi ở cấp cơ sở, đặc biệt trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp. Ở nhiều địa phương, cán bộ giảm nghèo vẫn kiêm nhiệm và hoặc năng lực khiêm tốn, trong khi yêu cầu quản lý ngày càng phức tạp. Biến đổi khí hậu và biến động thị trường cũng làm gia tăng nguy cơ tái nghèo, như các đợt lũ lụt lớn tại Tây Nguyên hay hạn mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Để khắc phục, TS Hòa đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, tăng tính cá nhân hóa chính sách theo đặc thù vùng miền và đẩy mạnh chuyển đổi số. Ông cho rằng, kinh tế số và thương mại điện tử có thể giúp người nghèo vượt qua rào cản địa lý, giảm chi phí trung gian và tiếp cận trực tiếp thị trường, nếu có sự điều phối của Nhà nước.

“Giảm nghèo trong không gian phát triển mới không chỉ là bài toán ngân sách, mà là bài toán thiết kế chính sách dựa trên năng lực”, ông phân tích và nhấn mạnh thêm, rằng chuẩn nghèo đa chiều nên được nhìn nhận như một công cụ đo lường. Nhưng điều quan trọng hơn là cách chuyển hóa các chỉ số đó thành đầu tư dài hạn, giúp người nghèo không chỉ thoát nghèo, mà đủ năng lực đứng vững trước những biến động ngày càng khó lường của kinh tế – xã hội.

Theo Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm từ 5,2% năm 2021 xuống khoảng 0,9-1,1% vào năm 2025 (ước tính). Riêng hộ nghèo là người dân tộc thiểu số giảm còn 12,55%, bình quân mỗi năm giảm hơn 4,45%.

Trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, việc lồng ghép 3 chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 đã góp phần thu hẹp đáng kể các vùng “lõi nghèo”. Hết năm 2025, có 35,8% số xã khu vực III và 26,9% số thôn đặc biệt khó khăn đã thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn.

Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn (Đình An)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

320/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

319/QĐ-TTg

Phê duyệt Đề án về chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử đến năm 2025

263/QĐ-TTg

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025

18/2022/QĐ-TTg

Ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025

24/2020/NQ-HĐND

Về một số chính sách hỗ trợ trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại0
  • Tổng lượt truy cập17
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây