Thái Nguyên có trên 598 sản phẩm OCOP
Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã góp phần khơi dậy tiềm năng, thế mạnh của các địa phương về sản phẩm đặc sản, ngành nghề nông thôn. Với tinh thần: “Phát huy nội lực, nâng tầm giá trị bản địa,” OCOP không chỉ dừng lại ở việc nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm mà còn góp phần thúc đẩy chuyển đổi tư duy sản xuất, hình thành các mô hình kinh tế cộng đồng bền vững.
Đến nay,Thái Nguyêncó trên 598 sản phẩm OCOP, trong đó có 10 sản phẩm OCOP 5 sao cấp quốc gia. Thông qua OCOP, giá trị sản phẩm nông nghiệp được nâng lên rõ rệt nhờ tiêu chuẩn hóa quy trình sản xuất, chú trọng chất lượng, an toàn thực phẩm, bao bì, nhãn mác và câu chuyện sản phẩm.

Các sản phẩm OCOP Thái Nguyên ngày càng đa dạng về mẫu mã, chủng loại. Ảnh:Quang Linh.
Nhiều sản phẩm sau khi được công nhận OCOP có doanh thu tăng từ 1,3 đến hàng chục lần so với trước, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, tạo việc làm ổn định tại chỗ, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Về tổ chức sản xuất, OCOP đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún sang sản xuất theo hướng liên kết, hợp tác và chuỗi giá trị. Các hợp tác xã (HTX), doanh nghiệp nhỏ và vừa đã trở thành lực lượng nòng cốt trong phát triển sản phẩm OCOP, giữ vai trò tổ chức sản xuất, liên kết vùng nguyên liệu, đầu tư chế biến và kết nối thị trường.
Tỷ lệ chủ thể OCOP là HTX của Thái Nguyên ở mức cao, thể hiện sự chuyển biến rõ nét về tư duy sản xuất hàng hóa, kinh tế hợp tác và kinh tế cộng đồng.
Tuy nhiên, việc đưa các sản phẩm này vào hệ thống siêu thị và các kênh tiêu thụ hiện đại vẫn còn hạn chế, xuất phát từ nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan.

Các sản phẩm mang tính bản địa ngày càng phát triển. Ảnh:Quang Linh.
5 rào cản khiến sản phẩm OCOP Thái Nguyên chưa hiện diện ổn định ở các kênh tiêu thụ hiện đại
Ông Nguyễn Thành Nam, Chi cục trưởng Chi cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn Thái Nguyên cho rằng, 5 rào cản lớn nhất khiến nhiều sản phẩm OCOP chưa hiện diện ổn định ở các kênh tiêu thụ hiện đại, đó là:
Hạn chế về quy mô sản xuất và năng lực cung ứng:Phần lớn sản phẩm OCOP do hộ sản xuất, HTX, doanh nghiệp quy mô nhỏ thực hiện, năng lực sản xuất chưa ổn định, khó đáp ứng đơn hàng lớn, liên tục; tính mùa vụ cao, phụ thuộc nguyên liệu địa phương khiến chuỗi cung ứng thiếu bền vững, không phù hợp yêu cầu phân phối hiện đại; siêu thị và sàn thương mại điện tử (TMĐT) ưu tiên đối tác có khả năng đảm bảo sản lượng – thời gian – đồng nhất chất lượng, trong khi nhiều chủ thể OCOP chưa đạt ngưỡng này.
Chi phí và cơ chế hợp tác chưa phù hợp:Chiết khấu thương mại, phí lên kệ, phí marketing, logistics trong hệ thống siêu thị vượt quá khả năng chịu đựng của nhiều chủ thể OCOP. Trên sàn TMĐT, chi phí quảng bá, vận hành gian hàng, xử lý đơn hàng và hoàn trả hàng hóa làm giảm mạnh biên lợi nhuận. Quan hệ giữa chủ thể OCOP và hệ thống phân phối chủ yếu mang tính “thử nghiệm”, thiếu hợp đồng dài hạn, dẫn đến rủi ro bị loại bỏ sớm.
Năng lực số và tư duy thị trường còn hạn chế:Nhiều chủ thể OCOP chưa làm chủ kỹ năng TMĐT: Quản trị gian hàng, tối ưu nội dung, xử lý phản hồi khách hàng, phân tích dữ liệu bán hàng. Tư duy sản xuất vẫn nặng về “làm ra sản phẩm”, chưa chuyển mạnh sang “làm theo nhu cầu thị trường”. Thiếu nhân sự chuyên trách về marketing, bán hàng và TMĐT khiến việc duy trì gian hàng không bền vững.
Hạn chế trong vai trò kết nối và hỗ trợ trung gian:Vai trò của cơ quan quản lý, đơn vị xúc tiến thương mại, tổ chức hỗ trợ OCOP trong kết nối với siêu thị và sàn TMĐT còn phân tán, thiếu chiều sâu. Chưa hình thành được nhiều đầu mối gom hàng, chuẩn hóa, làm trung gian phân phối OCOP, khiến mỗi chủ thể phải tự xoay sở. Chính sách hỗ trợ đưa sản phẩm OCOP vào kênh hiện đại chưa đủ mạnh, chưa mang tính dài hạn.
Yếu tố quản trị:Khó khăn trong việc đưa sản phẩm OCOP vào siêu thị và sàn TMĐT không chỉ là vấn đề “chưa đạt chuẩn”, mà là khoảng cách giữa mô hình sản xuất nông thôn truyền thống và hệ sinh thái bán lẻ hiện đại. OCOP mới dừng ở bước khẳng định giá trị bản địa, trong khi thị trường hiện đại đòi hỏi năng lực quản trị, tuân thủ, số hóa và liên kết chuỗi.

Vùng nguyên liệu chưa đủ lớn khiến một số hợp tác xã chưa ký được những đơn hàng “khủng”. Ảnh:Quang Linh.
Cũng theo ông Nguyễn Thành Nam, để tháo gỡ các hạn chế trên, các chương trình xúc tiến thương mại và quảng bá thương hiệu sản phẩm OCOP luôn được tỉnh và các địa phương quan tâm đẩy mạnh bằng nhiều hình thức, cả trong và ngoài tỉnh như: Xây dựng website để thực hiện số hóa việc quản lý, đánh giá, xếp hạng và quảng bá phát triển các sản phẩm OCOP tỉnh Thái Nguyên; hỗ trợ kinh phí xây dựng website quảng bá, giới thiệu và bán sản phẩm cho các chủ thể; hỗ trợ biển hiệu giới thiệu và bán sản phẩm OCOP cho hơn 360 cửa hàng tại các đơn vị cấp huyện, cấp xã…
Cùng với đó, tổ chức Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại: “Hội chợ Công Thương khu vực Đông Bắc – Thái Nguyên và các hoạt động quảng bá truyền thông về sản phẩm Gà đồi Phú Bình; “Festival Nông sản, OCOP, làng nghề gắn kết du lịch Thái Nguyên 2024”; quảng bá, giới thiệu sản phẩm tại Trạm dừng nghỉ Hải Đăng; Sự kiện xúc tiến tiêu thụ bí xanh thơm và sản phẩm OCOP gắn với du lịch trải nghiệm…
Đồng thời, tỉnh khuyến khích các chủ thể OCOP đẩy mạnh giới thiệu các sản phẩm trên các sàn giao dịch điện tử (Vietel, VinaPost, Facebook, Lazada, tiki, Tiktok…).



















