17:16:55 28/01/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Có một ngành hàng mang về cả tỷ đô, nhưng đang gặp khó trong vấn đề truy xuất nguồn gốc nguyên liệu

Năm 2025, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam đạt trên 3,9 triệu tấn, tương đương trên 1,26 tỷ USD. Theo Hiệp hội Sắn Việt Nam, là ngành hàng tỷ đô, cây sắn cần được quan tâm hơn nữa để khai thác tốt thế mạnh, phát triển bền vững.

Ngành hàng tỷ đô của Việt Nam và sinh kế của 1,2 triệu hộ nông dân

Báo cáo tại cuộc họp bàn về “Chuỗi cung ngành sắn Việt Nam, thực trạng và giải pháp” do Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Hiệp hội Sắn Việt Nam và Tổ chức Forest Trends tổ chức ngày 28/1, đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, đến năm 2025, diện tích trồng sắn của Việt Nam ước đạt khoảng 495.000ha, giảm so với giai đoạn đỉnh cao (2015-2016) nhưng vẫn duy trì ở mức cao. Sản lượng củ tươi đạt khoảng 10,2-10,5 triệu tấn/năm, trong khi năng suất bình quân tăng lên 20,5-21,0 tấn/ha, phản ánh tác động tích cực của giống mới và tiến bộ kỹ thuật.

Tại Việt Nam, cây sắn được trồng tập trung chủ yếu tại 3 vùng sinh thái: Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung. Đặc điểm chung của các vùng trồng sắn là đất dốc, đất xám, đất nghèo dinh dưỡng, dễ bị xói mòn. Việc canh tác sắn liên tục trong thời gian dài, thiếu biện pháp cải tạo đất, đã làm gia tăng nguy cơ suy thoái tài nguyên đất và ảnh hưởng đến tính bền vững của sản xuất.

Có một ngành hàng mang về cả tỷ đô, nhưng đang gặp khó trong vấn đề truy xuất nguồn gốc nguyên liệu
Nông dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng hối hả thu hoạch sắn. Ảnh: Thanh Hoa

Hệ thống chế biến sắn của Việt Nam khá phát triển về số lượng, với khoảng 2.200-2.300 cơ sở, song cơ cấu còn bất hợp lý khi cơ sở nhỏ, hộ gia đình chiếm tỷ lệ lớn. Tổng công suất thiết kế chế biến tinh bột sắn đạt khoảng 2,4-2,5 triệu tấn/năm, nhưng công suất thực tế chỉ đạt 65-70%.

Ngành sản xuất, chế biến và thương mại sắn (ngành sắn) là một ngành có đóng góp đáng kể trong thương mại hàng hóa nông nghiệp của Việt Nam. Sắn hiện là một trong những cây trồng quan trọng đối với sinh kế của khoảng 1,2 triệu hộ nông dân.

Trong khi đó, báo cáo của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho thấy, năm 2025, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam đạt trên 3,9 triệu tấn, tương đương trên 1,26 tỷ USD.

Trong năm 2025, thị trường xuất khẩu sắn của Việt Nam tập trung chủ yếu vào Trung Quốc. Cụ thể, xuất khẩu sang thị trường này đạt 3,7 triệu tấn, tương đương 1,17 tỷ USD, chiếm tới 94,1% tổng lượng và 92,6% tổng kim ngạch xuất khẩu sắn của cả nước.

Ngoài Trung Quốc, Việt Nam còn xuất khẩu sắn sang một số thị trường khác như Đài Loan, Malaysia và Philippines. Tuy nhiên, quy mô xuất khẩu sang các thị trường này còn nhỏ.

Có một ngành hàng mang về cả tỷ đô, nhưng đang gặp khó trong vấn đề truy xuất nguồn gốc nguyên liệu
Toàn cảnh cuộc họp bàn về chuỗi cung ngành hàng sắn hiện nay.

Theo nhận định của Cục Xuất nhập khẩu, xuất khẩu sắn của Việt Nam hiện nay phụ thuộc gần như tuyệt đối vào thị trường Trung Quốc. Mức độ tập trung thị trường quá cao khiến ngành sắn Việt Nam dễ bị tổn thương trước những biến động từ phía thị trường Trung Quốc.

Trước thực trạng xuất khẩu sắn tăng mạnh về sản lượng nhưng kim ngạch tăng chậm, Cục Xuất nhập khẩu đề xuất giải pháp căn bản và lâu dài là nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm thông qua đẩy mạnh chế biến sâu. Cần từng bước giảm tỷ trọng xuất khẩu sắn lát khô và tinh bột sắn sơ chế, đồng thời khuyến khích đầu tư phát triển các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao như tinh bột biến tính, sản phẩm phục vụ ngành thực phẩm, dược phẩm, công nghiệp và năng lượng sinh học. Việc phát triển chế biến sâu không chỉ giúp nâng cao giá trị xuất khẩu mà còn giảm sự phụ thuộc vào biến động giá của thị trường nguyên liệu thô, qua đó cải thiện hiệu quả và tính bền vững của xuất khẩu sắn.

Theo Hiệp hội Sắn Việt Nam, Việt Nam vừa là quốc gia sản xuất sắn nguyên liệu lớn, vừa là trung tâm chế biến và xuất khẩu sắn quy mô lớn của khu vực, với nguồn cung nguyên liệu đầu vào cho chế biến từ cả sản xuất trong nước và nhập khẩu. Tổng lượng cung sắn nguyên liệu của Việt Nam hàng năm đạt trên 18 triệu tấn tươi, trong đó, nguồn cung trong nước chiếm khoảng 58%, 42% còn lại là từ nhập khẩu với nguồn cung từ Lào và đặc biệt từ Campuchia, chiếm gần 100% lượng nhập khẩu.

Hiện nay, các thị trường quốc tế ngày càng gia tăng yêu cầu đối với tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và sản phẩm không gây mất rừng. Một ví dụ gần đây nhất là Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) hiện đang được áp dụng với ngành cà phê, cao su và gỗ. Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc đã và đang đưa ra những quy định mới nhằm ngăn chặn sản phẩm nông lâm nghiệp không có nguồn gốc rõ ràng, hoặc có quá trình sản xuất gây mất rừng và suy thoái rừng được nhập khẩu vào các thị trường này.

Tại Trung Quốc, thị trường nhập khẩu sắn quan trọng nhất của Việt Nam, các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp nhập khẩu đang ngày càng đưa ra nhiều yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng và truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm nhập khẩu. Sản phẩm sắn Việt Nam đang và sẽ tiếp tục phải đối mặt với những thách thức trong việc đáp ứng các quy định này trong tương lai không xa.

Có một ngành hàng mang về cả tỷ đô, nhưng đang gặp khó trong vấn đề truy xuất nguồn gốc nguyên liệu
Tiến sỹ Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhận định: “Khó khăn lớn nhất của ngành sắn hiện nay là việc đảm bảo truy xuất nguồn gốc.

Tiến sỹ Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhận định: “Khó khăn lớn nhất của ngành sắn hiện nay trong việc đảm bảo truy xuất nguồn gốc của ngành sắn Việt Nam nằm ở phần nguyên liệu, cả từ nông hộ trong nước và từ nhập khẩu”. Hiện tại, nguồn cung trong nước chủ yếu được trồng trên những diện tích nhỏ lẻ của nông hộ, được tiêu thụ qua thương lái và thiếu thông tin về các hoạt động sử dụng đất, giao dịch giữa hộ và thương lái khiến việc truy xuất nguồn gốc khó khăn; nhiều trường hợp là không thể. Khó khăn trong luồng cung nhập khẩu tương tự: các doanh nghiệp nhập khẩu không biết hoặc không có thông tin về vùng trồng, thiếu bằng chứng về các giao dịch.

Tiến sỹ Nguyễn Vinh Quang, cán bộ nghiên cứu của Forest Trends nêu quan điểm: “Để đảm bảo được việc truy xuất theo định hướng của Chính phủ, ngành sắn cần thực hiện việc tái cấu trúc chuỗi cung hiện tại, kiểm soát tốt khâu sản xuất, đặc biệt là các hoạt động sử dụng đất, chuyển đổi toàn bộ các hoạt động phi chính thức sang chính thức, minh bạch các hoạt động trong chuỗi, đảm bảo đủ bằng chứng để thực hiện truy xuất”.

Trong khi đó, ông Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam khẳng định: “Doanh nghiệp trong ngành cam kết hướng tới minh bạch chuỗi cung, đảm bảo đáp ứng mọi yêu cầu về bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, các doanh nghiệp ngành sắn rất cần có những hỗ trợ, hướng dẫn của cơ quan quản lý để đảm bảo thực hiện được các yêu cầu trên”.

Có một ngành hàng mang về cả tỷ đô, nhưng đang gặp khó trong vấn đề truy xuất nguồn gốc nguyên liệu
Tiến sỹ Tô Xuân Phúc của Tổ chức Forest Trends đề xuất các giải pháp phát triển ngành sắn.

Nhiều ý kiến cho rằng, tái cấu trúc lại chuỗi cung theo hướng có thể thực hiện truy xuất đòi hỏi ngành chế biến, xuất khẩu sắn cần nhận được những ưu tiên thỏa đáng từ Chính phủ và các cơ quan hữu quan. “So với các ngành hàng khác như cà phê, gỗ,… ngành sắn hiện chưa nhận được sự quan tâm thỏa đáng từ Chính phủ. Với 1,2 triệu nông hộ, bao gồm nhiều hộ đồng bào ở những vùng khó khăn, hiện đang tham gia khâu sản xuất, ngành sắn xứng đáng nhận được sự quan tâm cao của Chính phủ”, Tiến sỹ Tô Xuân Phúc của Tổ chức Forest Trends nêu quan điểm.

Để đảm bảo việc truy xuất nguồn gốc thuận lợi, nhiều ý kiến cho rằng, cần tổ chức lại ngành hàng sắn theo chuỗi giá trị, trong đó hợp tác xã là hạt nhân tổ chức vùng nguyên liệu. Tập trung hình thành các vùng trồng sắn ổn định, có kiểm soát, gắn với nhu cầu chế biến; tăng cường vai trò của hợp tác xã trong tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ đầu vào, kiểm soát chất lượng và liên kết tiêu thụ.

Phát triển tổ nhóm nông dân (THT), HTX chuyên ngành sắn, gắn chặt với doanh nghiệp chế biến chủ lực. Ưu tiên hỗ trợ các THT, HTX có quy mô đủ lớn, hoạt động thực chất, có khả năng ký kết hợp đồng dài hạn với doanh nghiệp; từng bước đưa hợp tác xã tham gia sâu hơn vào các khâu sơ chế, logistics và truy xuất nguồn gốc.

Đa dạng hóa thị trường tiêu thụ và xuất khẩu, chủ động mở rộng thị trường chính ngạch, khai thác hiệu quả các FTA, đồng thời giảm dần sự phụ thuộc vào một thị trường duy nhất; gắn phát triển thị trường với nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn và xây dựng thương hiệu sản phẩm sắn Việt Nam.

Gắn phát triển ngành sắn với bảo vệ đất, bảo vệ rừng và giảm phát thải, kiểm soát chặt chẽ việc mở rộng diện tích sắn trên đất dốc, đất rừng; thúc đẩy canh tác bền vững, cải tạo đất, sử dụng giống phù hợp và áp dụng các biện pháp giảm phát thải trong sản xuất và chế biến.

Nguồn: danviet.vn (Bá Việt st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

320/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

319/QĐ-TTg

Phê duyệt Đề án về chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử đến năm 2025

263/QĐ-TTg

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025

18/2022/QĐ-TTg

Ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025

24/2020/NQ-HĐND

Về một số chính sách hỗ trợ trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại0
  • Tổng lượt truy cập17
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây