20:39:03 13/03/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Giảm nghèo thông tin, thoát nghèo từ “vốn” tri thức

Thông tin trở thành “nguồn vốn” đặc biệt

Tiểu dự án “Giảm nghèo về thông tin” thuộc Dự án 6 (Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025) đã trở thành đòn bẩy quan trọng, giúp người dân vùng khó khăn tiếp cận khoa học kỹ thuật, thông tin đến với người dân trở thành giá trị kinh tế trực tiếp.

Có thể thấy, trong giai đoạn hiện nay, nếu thiếu thông tin có thể dẫn đến thiếu kiến thức, từ đó dẫn đến những quyết định sai lầm trong sản xuất và sự thụ động trong quyết định đầu tư sản xuất và tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Tiểu dự án “Giảm nghèo về thông tin” đã khơi thông nguồn vốn tri thức. Đây là loại vốn không tính bằng lãi suất ngân hàng, nhưng lại có khả năng sinh lời bền vững thông qua việc ứng dụng khoa học kỹ thuật (KHKT) và thay đổi tư duy sản xuất.

Như tại tỉnh Lào Cai, ông Thào A Dơ – một nông dân người H’Mông – trước đây chỉ biết trồng ngô theo lối quảng canh, năng suất bấp bênh.

Khi Tiểu dự án 6 Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững được triển khai, các điểm truy cập internet công cộng và các lớp tập huấn kỹ năng số xuất hiện tại bản làng. Nhờ sự hỗ trợ của cán bộ thông tin cơ sở, ông Dơ bắt đầu sử dụng smartphone để tìm kiếm kỹ thuật trồng lê VH6 trên YouTube và các trang web của ngành nông nghiệp.

Thông tin về giá cả thị trường và quy trình bón phân hữu cơ chính là “tài sản” quý giá nhất. Kết quả, vườn lê của ông đạt tiêu chuẩn VietGAP, thu nhập tăng gấp 5 lần so với trồng ngô. Câu chuyện của ông Dơ cho thấy khi khoảng cách về thông tin được thu hẹp, với sự nỗ lực của người nông dân khoảng cách về thu nhập cũng sẽ được rút ngắn.

Những chuyển biến tích cực từ Tiểu Dự án 6

Theo Quyết định số 90/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Tiểu dự án 1 thuộc Dự án 6 tập trung vào hai trụ cột chính. Thứ nhất, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin cơ sở: Để họ trở thành những “người dẫn đường” tin cậy cho bà con. Thứ hai, tăng cường nội dung thông tin thiết yếu cho xã hội: Đặc biệt là các thông tin về KHKT, gương điển hình thoát nghèo và các mô hình sản xuất hiệu quả.

Tính đến nay, hàng nghìn xã đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo đã được đầu tư hệ thống đài truyền thanh ứng dụng công nghệ thông tin – viễn thông. Thông tin người dân cần nhất được chuyển qua điện thoại, ứng dụng thay vì chỉ qua giấy tờ, bảng biểu hay các buổi họp như trước đây như: Thông tin dự báo sâu bệnh, thời tiết nông vụ; Kỹ thuật chăn nuôi thú y, canh tác hữu cơ; Thông tin về thị trường xuất khẩu lao động và việc làm địa phương; …

Dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, việc triển khai giảm nghèo thông tin vẫn đối mặt với không ít thách thức. Đó là sự lệch pha giữa thông tin và nhu cầu khi một số nơi vẫn cung cấp thông tin theo kiểu “có gì bán nấy” mà chưa bám sát nhu cầu thực tế của từng vùng miền, từng dân tộc.

Rào cản ngôn ngữ và trình độ: Tại vùng sâu vùng xa, việc chuyển hóa các thuật ngữ KHKT phức tạp sang ngôn ngữ bản địa và hình ảnh trực quan vẫn còn hạn chế.

Giảm nghèo thông tin, thoát nghèo từ “vốn” tri thức

Hạ tầng số chưa đồng bộ: Mặc dù sóng di động đã phủ khắp, nhưng chất lượng đường truyền internet tại một số bản làng vùng cao vẫn còn chập chờn, gây khó khăn cho việc tra cứu thông tin thời gian thực.

Để Tiểu dự án “Giảm nghèo về thông tin” thực sự đi vào chiều sâu, trở thành động lực cho phát triển sản xuất, chúng ta cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau

Thứ nhất, cần cá nhân hóa và bản địa hóa nội dung thông tin: Thông tin không được “đồng diễn”. Mỗi vùng sinh thái có một thế mạnh cây trồng, vật nuôi riêng. Nội dung thông tin cần được thiết kế dưới dạng video ngắn, đồ họa đơn giản (Infographic) và đặc biệt là cần có phiên dịch tiếng dân tộc để bà con dễ nghe, dễ hiểu, dễ làm theo.

Thứ hai, phát huy vai trò của “Tổ công nghệ số cộng đồng”. Qua đó, đưa thông tin đến tận tay người dân không thể chỉ dựa vào hệ thống loa phường. Cần phát huy tối đa vai trò của thanh niên, những người có kỹ năng số tốt, để cầm tay chỉ việc cho người già, người trung niên cách sử dụng ứng dụng (App) nông nghiệp, cách đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử.

Thứ ba, gắn kết chặt chẽ giữa thông tin và “đầu ra” sản phẩm. Thông tin về KHKT phải đi đôi với thông tin về thị trường. Dự án cần xây dựng các kênh kết nối trực tiếp giữa nông dân với doanh nghiệp tiêu thụ. Khi người dân thấy rõ việc “nghe theo thông tin” giúp họ bán được giá cao hơn, họ sẽ tự giác chủ động tìm kiếm tri thức.

Thứ tư, cần hiện đại hóa hạ tầng thông tin cơ sở, ưu tiên chuyển đổi số toàn diện hệ thống truyền thanh cơ sở sang công nghệ IP. Đồng thời, xây dựng các kho dữ liệu số dùng chung về kỹ thuật nông lâm ngư nghiệp để người dân có thể truy cập bất cứ lúc nào qua thiết bị di động.

Giảm nghèo thông tin không phải là một đích đến, mà là một quá trình liên tục để trang bị “vũ khí” cho người nghèo trong cuộc chiến chống lại đói nghèo và lạc hậu. Khi tri thức được phổ biến, khi KHKT len lỏi vào từng nếp nhà, ruộng vườn, đó cũng là lúc sự tự tin và khát vọng vươn lên của người dân được đánh thức.

Đầu tư cho thông tin chính là khoản đầu tư thông minh và bền vững nhất. Với sự quyết liệt của Chính phủ và sự chủ động của người dân, chúng ta hoàn toàn có quyền tin tưởng rằng, những thông tin từ Dự án 6 sẽ sớm hóa thành những mùa vàng bội thu, những ngôi nhà khang trang trên khắp mọi miền Tổ quốc.

Nguồn: danviet.vn (Việt Hằng ST)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

320/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

319/QĐ-TTg

Phê duyệt Đề án về chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử đến năm 2025

18/2022/QĐ-TTg

Ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại0
  • Tổng lượt truy cập17
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây