17:01:12 14/07/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Nỗ lực nâng tầm thương hiệu sầu riêng Việt Nam

Sầu riêng là sản phẩm nông sản chủ đạo của các tỉnh như Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh… Những năm qua, nhiều tổ hợp tác nông nghiệp, các hộ dân tại các địa phương này đã thực hiện nhiều giải pháp chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ để góp phần nâng cao chất lượng loại nông sản đặc biệt này…
Ảnh minh họa

Sau sáp nhập, tỉnh Lâm Đồng có tổng diện tích trồng cây sầu riêng là gần 44.000 ha, diện tích thời kỳ kinh doanh là 22.058 ha, tổng sản lượng niên vụ 2025 ước đạt 266.700 tấn.

Trong đó, diện tích sầu riêng ứng dụng hệ thống tưới nước tiết kiệm đạt hơn 7.200 ha; chứng nhận an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP 1.015 ha; tỉnh Lâm Đồng đã công nhận vùng sản xuất sầu riêng ứng dụng công nghệ cao xã Đạ Huoai 2 với quy mô 300 ha.

Toàn tỉnh đã được cấp 337 mã số vùng trồng sầu riêng xuất khẩu với diện tích 13.127,83 ha và 53 mã số cơ sở đóng gói sầu riêng xuất khẩu với tổng diện tích nhà xưởng 134.971 m2. Các mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói sầu riêng đã được Tổng cục Hải quan Trung Quốc phê duyệt.

Lâm Đồng hiện có 133 doanh nghiệp, hợp tác xã thu mua sầu riêng phục vụ xuất khẩu qua thị trường chính là Trung Quốc; 47 chuỗi liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm sầu riêng với 1.678 hộ tham gia, diện tích là 4.504,5 ha.

Tính đến nay, toàn tỉnh có 75 mã số vùng trồng sầu riêng đã ủy quyền cho 31 doanh nghiệp và 15 mã đóng gói ủy quyền cho 8 doanh nghiệp hoạt động đóng gói xuất khẩu sầu riêng.

Đặc biệt sau sáp nhập, Đạ Huoai 2 trở thành vùng đất “thủ phủ” của cây sầu riêng Lâm Đồng, tập trung phần lớn diện tích đã được cấp và sử dụng nhãn hiệu “Sầu riêng Đạ Huoai” với năng suất, chất lượng vượt trội.

UBND tỉnh Lâm Đồng cũng đã công nhận vùng sản xuất sầu riêng ứng dụng công nghệ cao xã Hà Lâm, huyện Đạ Huoai cũ (nay là xã Đạ Huoai 2) với quy mô 300ha.

Để ngành sầu riêng phát triển bền vững, Sở Nông nghiệp và Môi trường khuyến cáo người dân tuân thủ quy trình canh tác an toàn, giám sát, xử lý các loại sâu bệnh hại, kiểm soát chặt chẽ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng để đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu.

Đối với cơ sở đóng gói thực hiện nghiêm quy trình đóng gói một chiều, truy xuất nguồn gốc, đầu tư trang bị để thực hiện các biện pháp kỹ thuật nhằm đáp ứng quy định của nước nhập khẩu, không sử dụng chất Vàng O trong sơ chế, bảo quản sản phẩm sầu riêng.

Đối với doanh nghiệp xuất khẩu cần tổ chức chuỗi liên kết sản xuất, lên kế hoạch thu mua và xuất khẩu, đồng hành với người dân để xây dựng chuỗi giá trị bền vững, không vì lợi trước mắt mà phá vỡ liên kết.

Tại sản xuất sầu riêng ứng dụng công nghệ cao của các xã Châu Đức, Ngãi Giao, Kim Long, Bình Giã, Nghĩa Thành, Xuân Sơn thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là huyện Châu Đức tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cũ) hàng trăm hộ dân cũng như các doanh nghiệp, hợp tác xã tại đây đã ứng dụng nhiều công nghệ mới, chuyển đổi số để quản lý, canh tác…

Hiện vùng sản xuất sầu riêng ứng dụng công nghệ cao tại đây có quy mô vùng 449,92 ha, với 467 hộ sản xuất kinh doanh sầu riêng của Hợp tác xã sầu riêng Liên Đức.

Các hộ dân, doanh nghiệp trồng, sản xuất sầu riêng tại đây đã tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm liên kết theo chuỗi giá trị sầu riêng trong vùng, tổ chức đầu mối là hai hợp tác xã gồm Hợp tác xã sầu riêng Liên Đức và Hợp tác xã sầu riêng 9 Bê.

Đặc biệt, việc đẩy mạnh chuyển đổi số, đưa dữ liệu vào quản trị nông nghiệp thay vì chỉ dựa trên kinh nghiệm truyền thống đã tạo ra điểm đột phá tại vùng này.

Các hộ nông dân trong hợp tác xã được tiếp cận với nhật ký sản xuất điện tử, cho phép số hóa toàn bộ quá trình chăm sóc từ khâu bón phân đến khi thu hoạch. Hệ thống này không chỉ giúp quản lý sản xuất đồng nhất mà còn là cơ sở để thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc thông minh.

Thông qua tem xác thực điện tử trên từng sản phẩm, mọi thông tin về mã số vùng trồng, tiêu chuẩn VietGAP và lịch trình canh tác đều được hiển thị minh bạch, giúp việc xuất khẩu sầu riêng dễ dàng vượt qua các rào cản kỹ thuật để tiến sâu vào các thị trường quốc tế cao cấp.

Bên cạnh đó, việc ứng dụng các cảm biến IoT để theo dõi độ ẩm, dinh dưỡng đất và điều khiển hệ thống tưới tự động giúp tối ưu hóa chi phí vận hành, giảm lãng phí nguồn tài nguyên nước và phân bón. Đây là bước đi then chốt để hình thành một hệ sinh thái nông nghiệp số, nhằm nâng cao giá trị thương hiệu và năng lực cạnh tranh cho sầu riêng tại Bà Rịa – Vũng Tàu.

Về tiêu chuẩn chất lượng, vùng đã có 9,8 ha sản xuất đạt chứng nhận thực hành nông nghiệp tốt VietGAP; đặc biệt, hơn 32% diện tích đã được cấp mã số vùng trồng xuất khẩu sang Trung Quốc. Đáng chú ý, thương hiệu sầu riêng tươi của HTX 9 Bê đã khẳng định được vị thế với chứng nhận OCOP 3 sao.

So với phương thức truyền thống, mô hình thâm canh sầu riêng đã chứng minh ưu thế vượt trội khi nâng cao hiệu quả kinh tế và năng suất lên gấp 1,5 đến 2 lần so với sản xuất thông thường.

Để đạt được kết quả này, các hộ nông dân đã chuẩn hóa quy trình canh tác an toàn và bền vững, trọng tâm là việc triển khai đồng bộ hệ thống quản lý dinh dưỡng, dịch hại tổng hợp (ICM) cùng các giải pháp phòng trừ sâu bệnh chuyên sâu (IPM)…

Nguồn: vneconomy.vn (Đặng Hòa st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

số 2490/QĐ-UBND

Về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiều quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 -2030 tỉnh Nghệ An

Số 23/2026/TT-BNNMT

Thông tư Hướng dẫn thực hiện một số nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

số: 26/2026/QĐ-TTg

Quyết định ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm Mỗi xã một sản phẩm

số: 19/2026/QĐ-TTg

Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, xã đạt nông thôn mới hiện đại và tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

số 16/2026/QĐ-TTg

Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỉ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030

1451/QĐ-UBND

Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

827/QĐ-BNNMT

Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập1
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại92
  • Tổng lượt truy cập238
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây