14:54:14 09/02/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Thái Nguyên: Chuyển đổi số mở lối cho giảm nghèo bền vững

Thái Nguyên đứng trước bài toán lớn về thu hẹp chênh lệch phát triển giữa các vùng. Thay vì chỉ dựa vào trợ cấp truyền thống, tỉnh đã lựa chọn chuyển đổi số làm đòn bẩy mới, đưa công nghệ về tận thôn bản, tạo sinh kế, nâng năng lực người dân và đặt nền móng cho giảm nghèo bền vững.
Thái Nguyên: Chuyển đổi số mở lối cho giảm nghèo bền vững
Các chương trình livestream giúp nông sản Thái Nguyên mở rộng tệp khách hàng, tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững.

Sau sáp nhập, Thái Nguyên trở thành địa phương có diện tích rộng, địa hình phức tạp, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao. Điều này đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương thức giảm nghèo, nếu không muốn nguy cơ tái nghèo kéo dài ở các vùng sâu, vùng xa. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số được tỉnh xác định không chỉ là nhiệm vụ phát triển hiện đại hóa, mà là công cụ thiết thực để trao “cần câu” cho người nghèo.

ĐƯA CÔNG NGHỆ SỐ VỀ CƠ SỞ, TẠO KẾ SINH BỀN VỮNG CHO VÙNG KHÓ

Thực hiện chỉ đạo của Quốc hội và Chính phủ về Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021–2025, trước khi hợp nhất, Thái Nguyên và Bắc Kạn đã chủ động ban hành hệ thống văn bản đồng bộ. Tổng cộng 136 văn bản, gồm 26 nghị quyết, 10 quyết định và 100 văn bản quản lý, điều hành, đã tạo hành lang pháp lý thống nhất cho triển khai giảm nghèo theo hướng bền vững và thích ứng với chuyển đổi số.

Trên nền tảng đó, toàn tỉnh đã triển khai 642 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, thu hút hơn 13.300 hộ dân tham gia, trong đó phần lớn là hộ nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo. Điểm đáng chú ý là các dự án không chỉ hỗ trợ vốn, giống, vật tư, mà từng bước gắn với ứng dụng khoa học – công nghệ, quản lý sản xuất và tiếp cận thị trường bằng phương thức mới.

Thực tiễn cho thấy, khi người dân được hướng dẫn sử dụng kỹ thuật số trong trồng trọt, chăn nuôi, quản lý đầu vào và đầu ra, hiệu quả sản xuất được cải thiện rõ rệt. Năng suất tăng, chi phí giảm, khả năng tiếp cận thị trường tốt hơn đã tạo ra nguồn thu ổn định, qua đó giúp nhiều hộ thoát nghèo bền vững thay vì chỉ “thoát nghèo trên giấy”.

Một trong những nút thắt lớn nhất của giảm nghèo bền vững ở vùng cao là khoảng cách số. Nhận thức rõ điều này, Thái Nguyên đã ưu tiên đầu tư hạ tầng viễn thông và Internet đến các địa bàn khó khăn. Nhiều xã vùng sâu, vùng xa đã được phủ sóng 4G, nâng cấp băng thông, tạo điều kiện để người dân tiếp cận dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng số.

“BÌNH DÂN HỌC AI” VÀ TỔ CÔNG NGHỆ SỐ CỘNG ĐỒNG: THU HẸP KHOẢNG CÁCH SỐ

Song song với hạ tầng, tỉnh tập trung nâng cao kỹ năng số cho cộng đồng. Chương trình “Bình dân học AI” với gần 400.000 người tham gia đã trở thành điểm nhấn, giúp người dân làm quen với công nghệ, từ sử dụng điện thoại thông minh, mạng xã hội đến các ứng dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh. Các tổ công nghệ số cộng đồng và tình nguyện viên số được triển khai tại từng xã, đóng vai trò “cầm tay chỉ việc”, giúp người dân vượt qua rào cản ban đầu khi tiếp cận công nghệ.

Theo đánh giá, đây chính là bước chuyển quan trọng trong tư duy giảm nghèo. Chuyển đổi số không còn là khái niệm xa vời, mà trở thành công cụ hằng ngày, giúp người dân kết nối thông tin, trao đổi sản phẩm và tham gia vào không gian kinh tế số. Khi kỹ năng số được nâng lên, người dân có thêm cơ hội vươn lên bằng chính năng lực của mình, giảm dần sự phụ thuộc vào hỗ trợ trực tiếp.

Không dừng ở hỗ trợ cá nhân, Thái Nguyên triển khai chuyển đổi số theo hướng đồng bộ, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện. Ban Chỉ đạo chuyển đổi số được thành lập từ tỉnh đến xã, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành, địa phương và doanh nghiệp.

Các chính sách an sinh xã hội cũng được số hóa, từ quản lý dữ liệu hộ nghèo đến chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt. Việc ứng dụng cơ sở dữ liệu dân cư giúp chính quyền xác định đúng đối tượng, triển khai chính sách kịp thời, minh bạch và hạn chế thất thoát. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả giảm nghèo, nhất là trong bối cảnh nguồn lực cần được sử dụng đúng trọng tâm.

Một hướng đi mới đáng chú ý là phát triển du lịch thông minh và nông nghiệp số. Nhiều điểm đến, sản phẩm nông nghiệp đã được số hóa, gắn mã QR truy xuất nguồn gốc, kết nối với các sàn thương mại điện tử. Qua đó, người dân không chỉ bán sản phẩm với giá trị cao hơn, mà còn từng bước tham gia chuỗi giá trị, nâng cao vị thế trên thị trường.

Thực tế tại các vùng chè Tân Cương, La Bằng hay khu vực ATK Định Hóa cho thấy, khi công nghệ được đưa vào sản xuất và tiêu thụ, người nông dân không chỉ tăng thu nhập mà còn chủ động thích ứng với biến động thị trường. Đây chính là nền tảng để giảm nghèo mang tính lâu dài.

Hình ảnh người nông dân điều hành sản xuất qua chiếc điện thoại thông minh ngày càng trở nên quen thuộc ở Thái Nguyên. Từ hệ thống tưới tự động, quản lý trang trại đến quảng bá sản phẩm trên không gian mạng, công nghệ đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất nông nghiệp.

Theo nhận định, sự hình thành lớp “nông dân số” là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của chuyển đổi số trong giảm nghèo. Khi người nông dân làm chủ công nghệ, họ không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm mà còn mở rộng thị trường, giảm rủi ro và tăng khả năng cạnh tranh.

Với cách làm kiên trì, lấy người dân làm trung tâm, Thái Nguyên đang từng bước biến chuyển đổi số thành động lực giảm nghèo bền vững. Đây không chỉ là thành quả trước mắt, mà còn là nền tảng quan trọng để tỉnh phát triển toàn diện trong kỷ nguyên số, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau.

Nguồn: vneconomy.vn (Minh Hiền st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

320/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

319/QĐ-TTg

Phê duyệt Đề án về chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử đến năm 2025

263/QĐ-TTg

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025

18/2022/QĐ-TTg

Ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại0
  • Tổng lượt truy cập17
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây