





Đó là nhấn mạnh của ông Nguyễn Văn Hà, Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường tỉnh Nghệ An với PV Báo điện tử Dân Việt.
-Thưa ông, sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 về Bộ tiêu chí và quy định đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP, tỉnh Nghệ An đã tập trung triển khai và đổi mới công tác này như thế nào để đảm bảo tính minh bạch và nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP trên địa bàn?
Tỉnh Nghệ An luôn tập trung thực hiện tốt Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ về Bộ tiêu chí và quy định đánh giá, phân hạng sản phẩm Chương trình Mỗi xã một sản phẩm. Chúng tôi luôn làm tốt các trình tự, hội đồng, hồ sơ và các bước đánh giá, phân hạng sản phẩm theo từng cấp để đảm bảo các sản phẩm OCOP được đánh giá đúng tiêu chí về sản phẩm, sức mạnh cộng đồng, khả năng tiếp thị và chất lượng sản phẩm.

Nhờ sự nỗ lực này, tỉnh Nghệ An đã đạt được nhiều kết quả nổi bật trong triển khai Chương trình OCOP. Hiện toàn tỉnh có 743 sản phẩm được xếp hạng đạt OCOP 3 sao trở lên, trong đó có 3 sản phẩm đạt hạng 5 sao, 45 sản phẩm đạt 4 sao, 695 sản phẩm đạt hạng 3 sao. Việc đánh giá, phân hạng và công nhận sản phẩm OCOP theo Quyết định số 148/QĐ-TTg là công tác khẳng định chất lượng sản phẩm.
-Thưa ông, Nghệ An hiện là tỉnh có số lượng sản phẩm OCOP lớn top đầu cả nước. Vậy tỉnh đang có những chiến lược cụ thể nào để quảng bá và xúc tiến tiêu thụ các mặt hàng nông sản, đặc sản này?
Để công tác tiêu thụ nông sản ổn định và bền vững, tỉnh Nghệ An chúng tôi đang tích cực triển khai nhiều chương trình xúc tiến thương mại.
Ngành nông nghiệp đã giao cho Chi cục chúng tôi thực hiện các chương trình tham gia hội chợ tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh. Chúng tôi có cơ chế hỗ trợ tích cực cho các chủ thể, năm nay dự kiến hỗ trợ hơn 100 gian hàng tham gia khoảng 30 hội chợ trên toàn quốc. Đặc biệt, tháng 11 này, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh sẽ tổ chức chuỗi sự kiện trưng bày sản phẩm lớn tại Quảng trường Hồ Chí Minh, TP. Vinh.
-Nhiều chủ thể phản ánh, dù đạt chuẩn OCOP nhưng đầu ra còn hẹp. Nghệ An đã có những chính sách hỗ trợ tài chính, công nghệ, mẫu mã nào để giải quyết vấn đề này?
Hiện nay, Nghệ An có hai Nghị quyết chính sách rất quan trọng để hỗ trợ toàn diện cho các chủ thể OCOP.
Ngoài ra, các cơ sở sản xuất kinh doanh còn được hỗ trợ 50% tổng chi phí mua sắm máy móc, thiết bị, chuyển giao công nghệ, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất sản phẩm OCOP, nhưng không quá 500 triệu đồng/cơ sở sản xuất kinh doanh.
Hỗ trợ 50% tổng chi phí xây dựng, sửa chữa, mua sắm trang thiết bị bảo quản, trang trí điểm cho đơn vị thực hiện việc giới thiệu và bán các sản phẩm OCOP, nhưng không quá 300 triệu đồng/điểm giới thiệu và bán hàng sản phẩm OCOP.
Hỗ trợ 50% tổng chi phí thiết kế, mua bao bì thương phẩm, mua nhãn hàng hóa, nhưng không quá 50 triệu đồng/sản phẩm và được hỗ trợ cho mỗi lần nâng hạng sao.

Bên cạnh đó, tỉnh Nghệ An hiện đang có các chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại, bao gồm các hoạt động như: chuyên về hỗ trợ xúc tiến thương mại, bao gồm chi phí tham gia hội chợ, đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử, thúc đẩy ứng dụng công nghệ số, xây dựng website, tem nhãn truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu.
Chỉ riêng năm nay, chúng tôi đã hỗ trợ hơn 100.000 tem nhãn và bao bì nhãn mác cho nhiều chủ thể. Chính nhờ những chính sách hỗ trợ tài chính và thương mại tích cực này mà Nghệ An hiện có 743 sản phẩm OCOP, chỉ đứng sau Hà Nội, điều này cho thấy sự quan tâm rất lớn của tỉnh.
-Với số lượng 743 sản phẩm OCOP, chỉ đứng sau Hà Nội, liệu Nghệ An có đối mặt với tình trạng phát triển sản phẩm theo phong trào, thiếu đi tính đặc trưng, tiêu biểu của địa phương không, thưa ông?
Nghệ An là một tỉnh rộng lớn, chủ thể sản xuất, chế biến nông, lâm, thủy sản hiện nay khoảng hơn 25.000 cơ sở. Số lượng 743 sản phẩm OCOP là lớn nhưng vẫn là thực chất. Nhiều sản phẩm của Nghệ An rất đặc thù, ví dụ như Sen quê Bác đã đưa ra được rất nhiều sản phẩm có thương hiệu và mẫu mã làm quà rất tốt.
Việc sản xuất OCOP không phải đi theo phong trào. Gần đây, chúng tôi nhận thấy thị trường tiêu thụ sản phẩm OCOP về cơ bản là ổn định. Nhiều cơ sở mới khởi nghiệp nhưng đến nay đã duy trì, phát triển và mở rộng được quy mô, điều đó cho thấy hiệu quả rõ rệt.
-Ngoài xúc tiến tiêu thụ trong nước, Nghệ An đang có kế hoạch và kết quả xuất khẩu nông sản ra nước ngoài như thế nào?
Tỉnh Nghệ An đang từng bước có chương trình và kế hoạch cụ thể để đẩy mạnh xuất khẩu. Đến thời điểm hiện nay, nhiều sản phẩm của tỉnh Nghệ An đã được xuất khẩu, ví dụ như chè, dứa, trái cây và một số sản phẩm lương thực.
Đặc biệt, sản phẩm rất đơn giản là đặc sản của Nghệ An là lươn đồng (lươn chế biến) gần đây đã được xuất khẩu và đã ký hợp đồng đối tác với thị trường Mỹ, đạt hiệu quả rất tích cực. Đây là tín hiệu đáng mừng cho thấy nông sản đặc trưng của tỉnh hoàn toàn có thể chinh phục các thị trường khó tính.

-Thưa ông thời gian qua, tỉnh Nghệ An chú trọng phát triển nông nghiệp và bảo vệ môi trường thông qua chuyển đổi số ra sao?
Ngoài các kế hoạch chung, Chi cục Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường Nghệ An chúng tôi được phân công hai nhiệm vụ rất quan trọng trong chuyển đổi số. Một là, xây dựng thương hiệu số cho sản phẩm OCOP của tỉnh; chúng tôi đang kết nối giữa các phần mềm về website, kết nối với các sàn thương mại điện tử và hỗ trợ các cơ sở xây dựng website riêng.
Hai là, theo dõi, giám sát các doanh nghiệp vừa và nhỏ để hỗ trợ trong phát triển chuyển đổi số trong sản xuất nông sản. Ngành nông nghiệp nói chung cũng đang xây dựng các chương trình cụ thể, ví dụ như xây dựng và kết nối các vùng liên kết sản xuất, đưa dữ liệu lên hệ thống để kết nối từ sản xuất vùng thực tế đến tiêu thụ thị trường.
-Ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của yếu tố chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong việc phát triển và nâng cao giá trị sản phẩm nông sản của Nghệ An?
Chúng tôi thấy rằng chuyển đổi số là một tất yếu và rất hiệu quả trong công tác sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ nông sản hiện nay. Thông qua chuyển đổi số sẽ giúp nông dân, các HTX và doanh nghiệp nông nghiệp tăng năng suất và giảm chi phí, đặc biệt là nó sẽ tạo được mối liên hệ kiểm soát giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Quan trọng nhất là sẽ mở rộng được thị trường, quảng bá được sản phẩm không chỉ trong nước mà chắc chắn sẽ ra cả thế giới. Với lĩnh vực của chúng tôi, việc tập trung mạnh vào chuyển đổi số trong công tác tiêu thụ là rất quan trọng.
-Xin trân trọng cảm ơn ông!
Nguồn tin: danviet.vn (Bá Việt st)
Về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiều quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 -2030 tỉnh Nghệ An
Thông tư Hướng dẫn thực hiện một số nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Quyết định ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm Mỗi xã một sản phẩm
Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, xã đạt nông thôn mới hiện đại và tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030
Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỉ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030
Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026
Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030
Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030
Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030
NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

Giá cau tươi ở Đắk Lắk “tuột dốc” chỉ còn 40.000-60.000 đồng/kg, lò sấy, đại lý thu mua có động thái lạ
Dự báo ‘nóng’ về cung cầu gạo 2024/25: Sản lượng và nhu cầu đều tăng, cơ hội nào cho gạo Việt?
Quảng Ngãi có 53 loài động vật quý hiếm, gồm 14 loài chim hoang dã được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam
Đàn động vật hoang dã có tên trong sách Đỏ hay ngồi trên cây nhìn xuống ở khu rừng nổi tiếng Gia Lai
Xã Nghi Diên (huyện Nghi Lộc) kỷ niệm 70 năm thành lập và đón Bằng công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao
Nuôi hơn 2.000 chim trĩ, nông dân Nghệ An thu trăm triệu mỗi năm
Bán lượng gạo khổng lồ, Việt Nam cũng là nhà nhập khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới, mua của ai nhiều nhất?
Sự thật loại trứng xanh lè xanh lét siêu độc, lạ, giá gần 1 triệu/quả, được rao bán rầm rộ khắp các chợ
Nền độc đáo của quần thể Đền – Chùa Gám 