Ở Tp.HCM có HTX nông nghiệp Tuấn Ngọc là một hình mẫu về ứng dụng chuyển đổi số trong sản xuất rau thủy canh với mô hình “vườn rau không người”. HTX mạnh dạn ứng dụng các giải pháp số như hệ thống tưới nhỏ giọt tự động, cảm biến môi trường, nhà màng, nhà lưới, quản lý sản xuất bằng IoT (internet vạn vật) hay truy xuất nguồn gốc bằng mã QR, sử dụng phần mềm AgriNote (nhật ký điện tử nông nghiệp).
Từhành động của HTX nông nghiệp
Nhờ số hóa sản xuất mà HTX này giảm được chi phí nhân công, tiết kiệm nước tưới, kiểm soát sâu bệnh, đảm bảo an toàn thực phẩm, cũng như nâng tầm giá trị nông nghiệp đô thị. Năng suất trung bình của HTX khoảng 500kg rau sạch mỗi ngày, cung cấp cho các siêu thị, cửa hàng thực phẩm sạch Tp.HCM. Từ đó tạo doanh thu 6 tỷ đồng/năm, thu nhập của các thành viên HTX dao động 70-100 triệu đồng/năm.
![]() |
Môhình ứng dụngchuyển đổi số trong sản xuất rau thủy canhcủaHTX nông nghiệp Tuấn Ngọctại Tp.HCM. |
Còn trong vòng chung kết toàn quốc cuộc thi Dự án khởi nghiệp xanh 2025 (diễn ra tại Tp.HCM trong hai ngày 26 và 27/10/2025) do Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao tổ chức, điều ấn tượng là có những dự án của HTX đã đưa ứng dụng số hóa phục vụ chế biến nông sản, quản lý vùng nguyên liệu và tiếp thị, bán hàng.
Đơn cử như dự án “Quy trình sản xuất khép kín chanh không hạt Mỹ Long” của HTX dịch vụ nông nghiệp Mỹ Long (tỉnh Đồng Tháp). Qua trao đổi vớiVnBusiness, ông Lê Văn Nam, thành viên Hội đồng quản trị của HTX, cho biết việc ứng dụng công nghệ mới (thông qua hợp tác chuyển giao công nghệ với Trường Đại học Bách khoa Tp.HCM) và đưa chuyển đổi số vào sản xuất kinh doanh sản phẩm từ chanh không hạt là ưu tiên hàng đầu của HTX.
“Chúng tôi đang ứng dụng chuyển đổi số trong khá nhiều khâu. Như hiện tại HTX sử dụng mã QR để chống hàng giả và cho website bán hàng, phần mềm truy xuất nguồn gốc, phần mềm kế toán điện tử do Nhật Bản thiết kế. Hoặc như 99% thành viên HTX đều sử dụng điện thoại thông minh (smartphone) để phục vụ quản lý, theo dõi thông tin, tự động hóa các quy trình, bán hàng online…”, ông Nam nói.
Nhờ vào việc chủ động ứng dụng công nghệ mới và công nghệ số (để đảm bảo quy mô sản xuất, quy trình chế biến cho đến năng lực đáp ứng thị trường) mà mới đây HTX dịch vụ nông nghiệp Mỹ Long đã được Công ty Vina T&T Group (một nhà xuất khẩu nông sản hàng đầu của Việt Nam) lựa chọn trong nhóm những doanh nghiệp (DN), HTX tiềm năng thuộc hệ sinh thái khởi nghiệp xanh để trực tiếp đồng hành, tư vấn hoàn thiện sản phẩm và mở đường xuất khẩu vào chính những thị trường mà công ty đã có mặt.
Theo ông Lê Văn Nam, điều mong muốn của HTX là tiếp tục ứng dụng chuyển đổi số mạnh mẽ hơn nữa trong các khâu sản xuất chế biến, quản lý vùng nguyên liệu, tiếp thị và bán hàng. Tuy nhiên, để làm được điều đó đòi hỏi HTX phải có doanh thu hiệu quả thì mới có nguồn lực nâng tầm số hóa.
Ngoài ra, điều trăn trở của vị thành viên Hội đồng quản trị HTX dịch vụ nông nghiệp Mỹ Long là vấn đề nhân lực và kinh phí cho việc chuyển đổi số của HTX. Về kinh phí, HTX đã nhận được một phần hỗ trợ từ địa phương, còn về nhân lực sẽ phải đào tạo từ từ, nhất là HTX rất cần nguồn nhân lực trẻ để tiếp cận tốt với các công nghệ mới của số hóa trong nông nghiệp.
Hoặc như các sản phẩm xà bông được sản xuất từ thảo dược bản địa của HTX Sinh Dược (một HTX nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình) với thế mạnh số hóa trong mã QR để chinh phục khách hàng. Chị Dương Thị Hương, đại diện kinh doanh của HTX tại Tp.HCM, cho biết trong bộ sản phẩm mới của HTX là “xà bông biển đảo”, chỉ cần dùng smartphone quét mã QR sẽ thấy được phần giới thiệu bằng tiếng Việt và tiếng Anh về biển đảo Việt Nam, hoặc với bộ sản phẩm “dầu tắm cổ tích” khi quét mã QR sẽ nghe được nghe những câu chuyện cổ tích…
Theo chị Hương, công suất tiêu thụ hàng năm của HTX lên đến 10.000 tấn thảo dược. Có được điều đó cũng là nhờ HTX đẩy mạnh việc ứng dụng chuyển đổi số trong bán hàng. Nhất là thiết lập kênh bán hàng trực tuyến (online) trên website, fanpage, facebook, giỏ hàng trên Tiktok, mini app trên ứng dụng Zalo, các sàn thương mại điện tử Lazada, Shopee, Tiki…
Đến “chìa khóa” giải quyết những thách thức
Có thể nói việc góp phần kiến tạo sức mạnh số hóa trong sản xuất kinh doanh của các HTX nông nghiệp như kể trên rất đáng khích lệ và cần nhân rộng ở các vùng tập trung sản xuất nông nghiệp.
Chẳng hạn như ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – với vai trò là trung tâm nông nghiệp và “vựa lúa, vựa hải sản, vựa trái cây” lớn nhất cả nước, theo Ts. Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch hội Tự động hóa Việt Nam, nhờ ứng dụng Blockchain (công nghệ chuỗi khối) mà nhiều HTX nông nghiệp ở ĐBSCL bước đầu đã cải thiện khả năng truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu của các thị trường khó tính như EU và Nhật Bản…Điều này không chỉ gia tăng giá trị sản phẩm mà còn giúp xây dựng thương hiệu nông sản ĐBSCL trên trường quốc tế.
Mặt khác, như lưu ý của Ts. Nguyễn Quân, cộng đồng DN sản xuất, chế biến và dịch vụ nông – thủy sản tại ĐBSCL là lực lượng chủ đạo trong việc duy trì và phát triển kinh tế vùng kinh tế trọng điểm. Tuy nhiên, các DN này đang đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm chi phí sản xuất cao, khó khăn trong truy xuất nguồn gốc sản phẩm, chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế quản lý sản xuất và chất lượng sản phẩm hàng hóa nông sản (GlobalGAP, ISO, HACCP, GMP…) và hạn chế trong tiếp cận thị trường quốc tế.
Chính vì vậy, Ts. Nguyễn Quân nhấn mạnh chuyển đổi số chính là “chìa khóa” để giải quyết các thách thức này. Các công nghệ như IoT (Internet vạn vật) và Blockchain đã được ứng dụng thành công trong giám sát và quản lý sản xuất. Ví dụ, việc triển khai hệ thống cảm biến IoT trong nuôi trồng thủy sản tại Cà Mau đã giúp DN tối ưu hóa việc kiểm soát chất lượng nước, tăng sản lượng nuôi trồng, đồng thời giảm đáng kể chi phí vận hành. Hoặc như Blockchain cũng đang thay đổi cách các DN quản lý chuỗi cung ứng.
Không những vậy, vị Chủ tịch hội Tự động hóa Việt Nam chỉ rõ thương mại điện tử đang mở ra các cơ hội mới cho DN vừa và nhỏ. Các nền tảng mạng xã hội đã giúp hàng ngàn DN nông sản tại ĐBSCL tiếp cận trực tiếp với người tiêu dùng trên toàn quốc, đồng thời giảm phụ thuộc vào các kênh phân phối truyền thống vốn nhiều rủi ro.
Từ việc nêu ra những hành động cụ thể để ứng dụng số hóa của một số HTX nông nghiệp, cho đến “mở khóa” chuyển đổi số của các DN ở “vựa nông sản” lớn nhất cả nước như ĐBSCL, để thấy tầm quan trọng của việc kiến tạo sức mạnh số hóa nông sản Việt như thế nào.
Bởi lẽ, công nghệ số được cho là sẽ đóng vai trò then chốt với ngành hàng nông sản Việt trong tương lai. Và đó là hành trình của tư duy và niềm tin từ các chủ thể tham gia vào ngành hàng này (gồm nông dân, HTX, DN và các nhà khoa học, nhà quản lý) để không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế số.
Điều quan trọng là các chủ thể phải thay đổi cách nghĩ, dám vượt qua tâm lý ngắn hạn, phải hành động cụ thể phía sau những cơ hội được mở ra, cũng như cần niềm tin, tầm nhìn và sự can đảm để định hình tương lai số cho nông nghiệp Việt Nam.
Nguồn tin: vnbusiness.vn (Nguyễn Nhung st)




















