03:12:02 04/03/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Sứ mệnh lịch sử của hạt gạo Việt và các vấn đề nội tại trong chuỗi giá trị hạt gạo cần tháo gỡ

Với vị thế là một trong ba cường quốc xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, ngành lúa gạo Việt Nam đã và đang đóng góp quan trọng vào an ninh lương thực toàn cầu. Gạo Việt Nam không chỉ nổi tiếng về sản lượng mà còn được đánh giá cao về chất lượng, đặc biệt là trong phân khúc gạo chất lượng cao, gạo giảm phát thải và gạo đặc sản.

Vị thế và những thành tựu nổi bật của gạo Việt Nam

Năm 2024 được các chuyên gia đánh giá là năm đã đi vào lịch sử ngành lúa gạo Việt Nam với những kỷ lục ấn tượng. Lượng gạo xuất khẩu đạt khoảng 9,04 – 9,18 triệu tấn, thu về 5,7 – 5,75 tỷ USD, là mức cao nhất từ trước tới nay cả về lượng và giá trị. Giá gạo xuất khẩu bình quân cũng đạt mức cao kỷ lục, trên 600 USD/tấn, tăng ấn tượng trên 28% trong 3 năm gần đây nhất.

Thành công này đã củng cố vị thế của Việt Nam là nhà xuất khẩu gạo lớn thứ 3 thế giới, chỉ sau Ấn Độ (17 triệu tấn) và Thái Lan (10 triệu tấn). Những con số này minh chứng cho khả năng tận dụng tốt các cơ hội thị trường và sự chuyển dịch tích cực trong ngành, đặc biệt khi nguồn cung toàn cầu có những biến động lớn.

Ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH sản xuất thương mại Phước Thành IV (Vĩnh Long) nhận định: Gạo Việt ngày càng được ưa chuộng nhờ vào việc chúng ta có một bộ giống lúa tốt năng suất cao như OM4900, OM18, OM5451, ĐT8, ST… Bộ giống này làm ra sản phẩm gạo Việt có chất lượng tốt và giá cạnh tranh cao, phù hợp với phổ thị trường rất rộng từ Philippines, châu Phi, Trung Quốc và các nước Trung Đông.

Thứ hai là sự tươi mới nhờ tính nhanh nhẹn, năng động của nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất và xuất khẩu sản phẩm gạo. Ngay sau khi thu hoạch xong, hạt lúa được xay xát, chế biến, đóng gói và đưa đến tay người tiêu dùng chỉ mất khoảng 2 tuần. Đặc biệt, vụ đông xuân lúa có chất lượng tốt nhất trong năm nên sản xuất ra thì 70 – 80% tiêu thụ được ngay vì các thị trường rất thích.

“Sự tươi mới của gạo Việt là điều mà khách hàng Philippines và Trung Quốc ưa thích. Lợi thế này các nước khác khó cạnh tranh được, ngay cả nước bên cạnh là Thái Lan”, ông Thành đánh giá.

Sứ mệnh lịch sử của hạt gạo Việt và các vấn đề nội tại trong chuỗi giá trị hạt gạo cần tháo gỡ
Nông dân Đồng Tháp tham gia thực hiện thí điểm đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Ảnh: H.X

Đề cập đến hạt gạo Việt trên thị trường thế giới, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) nói: “Gạo Việt Nam vẫn cung không đủ cầu nhờ xây dựng được thị trường riêng với các dòng gạo ĐT, OM. Đặc biệt, gạo ST25 được kiều bào trên thế giới đánh giá rất ngon, thể hiện “tình yêu đi qua dạ dày” và góp phần nâng cao hình ảnh quốc gia. Giá gạo xuất khẩu bình quân của Việt Nam là 514 USD/tấn dù giảm so với các năm gần đây nhưng vẫn cao hơn so với các nước”.

Một ví dụ điển hình là năm 2024, Tập đoàn Tân Long đã xuất khẩu 5.000 tấn gạo thương hiệu A An (ST25) sang Nhật Bản và dự kiến tăng lên 30.000 tấn vào năm 2025, nhờ vượt qua hơn 600 chỉ tiêu kiểm nghiệm khắt khe.

Tiếp đó, tháng 6/2025 vừa qua, Việt Nam tiếp tục “tung” ra loại gạo siêu đặc biệt mà chưa quốc gia nào sản xuất được để xuất khẩu. Theo đó, lô “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” đầu tiên được Công ty CP Nông nghiệp công nghệ cao Trung An xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản.

Ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch HĐQT doanh nghiệp nói trên cho biết: Lô “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” này có giá 820 USD/tấn, xuất tại kho của đơn vị ở TP Cần Thơ. Còn tính theo giá CIF (bao gồm giá gốc của hàng hóa, bảo hiểm, phí vận chuyển đến cảng đích) tương đương hơn 1.000 USD/tấn. Giá này ngang ngửa với dòng gạo cao cấp nhất Hom Mali của Thái Lan hiện nay và cao gấp đôi so với giá gạo thơm đang được doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu.

Sau khi xuất bán thành công lô hàng gạo phát thải thấp đầu tiên sang Nhật Bản, dự kiến tháng 10 tới đây, Công ty Trung An tiếp tục bán lô gạo gần 3.000 tấn được chứng nhận phát thải thấp sang thị trường Úc.

Các chuyên gia cho rằng, thành công của ST25 hay gạo phát thải thấp không chỉ là một điểm sáng đơn lẻ, đó là một quá trình dài cả một thập kỷ cho sự chuyển hướng sang gạo chất lượng cao, gạo có thương hiệu với những đầu tư về nghiên cứu giống, quy trình sản xuất nghiêm ngặt đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và các chiến lược về thị trường.

Sứ mệnh lịch sử của hạt gạo Việt và các vấn đề nội tại trong chuỗi giá trị hạt gạo cần tháo gỡ
Mô hình trồng lúa giảm phát thải của ông Nguyễn Thanh Xuân ở ấp 4, xã Thạnh Lợi, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã Trường Xuân, tỉnh Đồng Tháp). Ảnh: H.X

Tháo gỡ hạn chế nội tại trong chuỗi giá trị

Tuy nhiên, ngành lúa gạo Việt Nam vẫn đang đứng trước nhiều thách thức, khó khăn cả nội tại và khách quan. Một trong những điểm nghẽn cho thấy sự thiếu chuyên nghiệp, đó là hiện nay mới chỉ có 1-2 trong số khoảng 130 doanh nghiệp xuất khẩu gạo của VFA tham gia liên kết với nông dân trồng lúa. Đa số doanh nghiệp không tham gia liên kết với nông dân hoặc chỉ đặt cọc để lấy lúa khi thu hoạch.

Ông Phạm Thái Bình – Chủ tịch HĐQT Công ty Trung An chỉ rõ: Để phát triển mối liên kết được thì doanh nghiệp phải có đủ tiền, quan trọng nhất là tiền mua lúa lúc thu hoạch rộ. Vì vậy, phía ngân hàng cũng như ngành chức năng có liên quan cần quan tâm ưu tiên, hỗ trợ các doanh nghiệp ngành lúa gạo có vốn đủ để mua lúa cho nông dân thời điểm thu hoạch rộ. Từ đó, mới có thể tăng thêm diện tích liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trồng lúa trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, công nghệ chế biến lúa gạo tại Việt Nam cũng còn lạc hậu so với Thái Lan, với tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch lên tới 5-7%. Điều này không chỉ gây lãng phí mà còn làm giảm giá trị gia tăng của hạt gạo. Chi phí vật tư đầu vào tăng cao cũng là một thách thức đáng kể. Chi phí đầu vào tăng trong khi giá xuất khẩu giảm, lợi nhuận của người nông dân và doanh nghiệp bị bào mòn, ảnh hưởng đến khả năng tái đầu tư và nâng cấp sản xuất.

Để nâng cao thu nhập cho người nông dân và đưa ngành gạo phát triển bền vững, ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất thương mại Phước Thành IV cho biết, một trong những hướng đi căn cơ và bền vững là phải công nghệ hóa ngành trồng lúa, đặc biệt là thu hút giới trẻ có năng lực về công nghệ thông tin vào lĩnh vực này.

“Người trẻ mới có khả năng tiếp cận và ứng dụng công nghệ vào sản xuất. Nếu không thu hút được lực lượng này, ngành lúa gạo sẽ rất khó phát triển trong tương lai”, ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH sản xuất thương mại Phước Thành IV nói.

Bên cạnh đó, giá lúa gạo cần tăng thêm từ 10–20% mới có thể cải thiện thu nhập cho nông dân, từ đó khuyến khích giới trẻ quay lại với đồng ruộng. Nhưng để giá tăng bền vững, phải nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất – điều mà chỉ có công nghệ mới có thể đáp ứng.

Việt Nam hiện vẫn sản xuất lúa gạo chủ yếu theo phương pháp truyền thống, sử dụng nhiều lao động thủ công, trong khi công nghệ tự động hóa, cơ giới hóa, số hóa vẫn chưa được triển khai sâu rộng. Để thay đổi điều này, cần có sự hỗ trợ từ Nhà nước, đặc biệt là các bộ ngành liên quan như Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Sứ mệnh lịch sử của hạt gạo Việt và các vấn đề nội tại trong chuỗi giá trị hạt gạo cần tháo gỡ
Hiện, mỗi năm vùng ĐBSCL sản xuất 24-25 triệu tấn lúa, chiếm hơn 50% sản lượng lúa và trên 90% lượng gạo xuất khẩu cả nước. Ảnh: H.X

Đối mặt với những thách thức này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã và đang triển khai nhiều chiến lược mang tính đột phá, nổi bật là Đề án “1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp” nhằm hình thành vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030.

Song song với đề án trọng điểm này, Chính phủ cũng ban hành nhiều chính sách hỗ trợ đồng bộ. Từ ngày 1/1/2025, mức hỗ trợ đối với đất chuyên trồng lúa được tăng lên 1,5 triệu đồng/ha/năm và 750.000 đồng/ha/năm cho đất trồng lúa còn lại. Kinh phí này được sử dụng để cải tạo đất, duy tu hạ tầng, và hỗ trợ mua bản quyền giống lúa.

Về tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có Công văn số 1595/NHNN-TD (ngày 5/3/2025) yêu cầu các ngân hàng thương mại chủ động cân đối nguồn vốn, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn vay của người dân, doanh nghiệp phục vụ sản xuất, chế biến, thu mua tạm trữ và xuất khẩu gạo. Các ngân hàng cũng được khuyến khích xem xét nâng hạn mức, thời hạn cho vay và mở rộng tín dụng trung, dài hạn cho đầu tư kho chứa, máy móc chế biến.

Bộ Công Thương đẩy mạnh đàm phán mở rộng thị trường mới, ưu tiên gạo chất lượng cao; tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại, tập trung vào các thị trường mới tiềm năng với giá trị cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Mỹ, Canada, Áo…

Nói về sứ mệnh của hạt gạo Việt Nam trên thị trường thế giới, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng (Đại học Kinh tế quốc dân) cho rằng, với vị thế được nâng lên đáng kể trên thị trường thế giới, ngành công nghiệp lúa gạo Việt Nam cần chủ động, tích cực thay đổi hay làm tươi mới tầm nhìn, nâng cấp từ trách nhiệm đơn thuần với cộng đồng quốc tế thành sứ mệnh lịch sử mang tính bước ngoặt trong ngành công nghiệp lúa gạo thế giới, có khả năng tạo ảnh hưởng tích cực đến việc bảo đảm an ninh lượng thực thế giới, chuyển đổi cơ cấu tiêu dùng từ tiêu dùng gạo chất lượng trung bình hay trung bình khá sang tiêu dùng gạo chất lượng cao, gạo hữu cơ, gạo ngon.

Đây là sứ mệnh làm thay đổi phúc lợi người tiêu dùng gạo thế giới.

“Điều này đòi hỏi đột phá chiến lược mô hình phát triển, xây dựng được một hệ sinh thái phát triển đầy đủ với nền tảng số hóa, nghiên cứu và phát triển lúa gạo hàng đầu, cơ các cơ sở nghiên cứu, thí nghiệm, thử nghiệm trình độ cao, kỹ thuật tinh xảo, đội ngũ nhân lực đầu ngành thế giới về lúa gạo. Lúa gạo được sản xuất ra đáp ứng được nhu cầu cao nhất, thậm chí dẫn dắt nhu cầu khi dựa vào thành công đột phá công nghệ…”, ông Lạng nói.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi Trường Trần Thanh Nam, việc xuất khẩu thành công gạo phát thải thấp là kết quả của quá trình chuyển dịch sản xuất sang phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả đất đai. Việc này giúp gia tăng giá trị cho gạo Việt. Hiện có 7 doanh nghiệp được Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp”, thuộc chương trình 1 triệu ha lúa chất lượng cao, với sản lượng hơn 19.000 tấn năm nay.

Nguồn tin: danviet.vn (Bá Việt st)

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

51/2025/QĐ-TTg

Quyết định Số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/ 12/ 2025 Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

257/2025/QH15

NGHỊ QUYẾT PHÊ DUYỆT CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2026 – 2035

1489/QĐ-TTg

Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/07/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ

LĂNG THÀNH- YÊN THÀNH ĐÓN BẰNG CÔNG NHẬN XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO.

1541/QĐ-UBND

Ban hành Bộ tiêu chí thôn, xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới; Vườn đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2025

318/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

1563/QĐ-UBND

Về việc quy định các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

320/QĐ-TTg

Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới; quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025

319/QĐ-TTg

Phê duyệt Đề án về chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử đến năm 2025

263/QĐ-TTg

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025

18/2022/QĐ-TTg

Ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại0
  • Tổng lượt truy cập17
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây