11:28:14 12/08/2026

Chung sức xây dựng nông thôn mới_top

Nâng cao năng lực các chủ thể tham gia phát triển sản phẩm OCOP

OCOP tạo động lực phát triển kinh tế nông thôn

Những năm gần đây, Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn tại Nghệ An. Từ một chương trình còn khá mới mẻ, đến nay OCOP đã góp phần thay đổi tư duy sản xuất của người dân, từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang phát triển hàng hóa theo chuỗi giá trị, gắn với thị trường và xây dựng thương hiệu.

Đến nay toàn tỉnh hiện có 588 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, thuộc nhiều nhóm ngành như thực phẩm, đồ uống, dược liệu, sản phẩm làng nghề, thủ công mỹ nghệ và dịch vụ du lịch nông thôn. Nhiều sản phẩm OCOP của Nghệ An đã từng bước khẳng định vị thế trên thị trường, không chỉ tiêu thụ mạnh trong tỉnh mà còn mở rộng ra nhiều địa phương trong cả nước.

Các sản phẩm như, nước mắm Cửa Lò, giò bê Nam Đàn, trà sen, nhút Thanh Chương hay các sản phẩm dược liệu miền Tây Nghệ An đang từng bước trở thành thương hiệu đặc trưng của địa phương. Thông qua chương trình OCOP, nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và hộ sản xuất đã có điều kiện mở rộng quy mô, nâng cao thu nhập và tạo việc làm ổn định cho lao động nông thôn.

Vùng nguyên liệu của Công ty dược liệu Pù Mát

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế cho thấy phần lớn các chủ thể OCOP trên địa bàn tỉnh vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, hạn chế cả về nguồn lực, năng lực quản trị, công nghệ sản xuất lẫn khả năng tiếp cận thị trường. Đây được xem là “điểm nghẽn” lớn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, sức cạnh tranh và khả năng phát triển bền vững của sản phẩm OCOP trong giai đoạn tới.

Nhiều chủ thể OCOP còn yếu về năng lực quản trị

Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay là phần lớn các chủ thể OCOP của Nghệ An vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ. Nhiều cơ sở sản xuất xuất phát từ hộ kinh doanh cá thể hoặc hợp tác xã nhỏ nên còn hạn chế về trình độ quản lý, điều hành sản xuất và xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn. Không ít chủ thể chưa có tư duy phát triển sản phẩm theo hướng thị trường mà vẫn sản xuất theo kinh nghiệm truyền thống. Việc xây dựng kế hoạch kinh doanh, kiểm soát chất lượng, quản lý tài chính hay nghiên cứu nhu cầu thị trường còn mang tính tự phát.

Đặc biệt, nhiều chủ thể chưa có đội ngũ chuyên trách về marketing, thương mại điện tử hay xây dựng thương hiệu. Một số sản phẩm có chất lượng khá tốt nhưng thiếu chiến lược quảng bá nên chưa tạo được dấu ấn trên thị trường.

Thực tế cho thấy, nhiều chủ thể sau khi đạt chứng nhận OCOP vẫn chưa duy trì được tốc độ tăng trưởng doanh thu, thậm chí có sản phẩm giảm sức cạnh tranh do thiếu đổi mới mẫu mã và phương thức tiếp cận khách hàng.

Khó khăn về vốn và công nghệ vẫn là “điểm nghẽn”

Phần lớn các chủ thể OCOP hiện nay đang gặp khó khăn về nguồn vốn đầu tư. Việc xây dựng nhà xưởng, đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ chế biến hay thiết kế bao bì hiện đại đều cần nguồn kinh phí lớn, trong khi khả năng tiếp cận tín dụng của các hợp tác xã và hộ sản xuất còn hạn chế. Nhiều cơ sở sản xuất chưa đủ điều kiện thế chấp để vay vốn ngân hàng; trong khi các chính sách hỗ trợ hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Điều này khiến nhiều chủ thể dù có tiềm năng phát triển nhưng chưa thể mở rộng quy mô sản xuất. Bên cạnh đó, công nghệ chế biến và bảo quản của nhiều cơ sở còn lạc hậu. Không ít sản phẩm OCOP vẫn sản xuất theo phương thức thủ công hoặc bán thủ công, dẫn đến năng suất thấp, chất lượng chưa đồng đều và giá trị gia tăng chưa cao.

Đối với các sản phẩm nông sản, hạn chế lớn nhất hiện nay là khâu chế biến sâu và bảo quản sau thu hoạch. Nhiều sản phẩm chỉ dừng ở dạng sơ chế nên giá trị kinh tế thấp, khó cạnh tranh với sản phẩm cùng loại trên thị trường. Ngoài ra, việc áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng như VietGAP, hữu cơ, HACCP hay ISO tại nhiều cơ sở vẫn còn hạn chế do thiếu vốn đầu tư và thiếu kiến thức kỹ thuật.

Hạn chế trong xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường

Một thực tế đáng chú ý là nhiều sản phẩm OCOP của Nghệ An dù có chất lượng tốt nhưng chưa xây dựng được thương hiệu mạnh. Bao bì, nhãn mác của nhiều sản phẩm còn đơn giản, thiếu tính chuyên nghiệp và chưa phù hợp với xu hướng tiêu dùng hiện đại. Việc xây dựng câu chuyện sản phẩm gắn với văn hóa, vùng miền hay giá trị truyền thống còn chưa được chú trọng. Điều này khiến sản phẩm khó tạo được sự khác biệt trên thị trường.

Bên cạnh đó, khả năng xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường của nhiều chủ thể OCOP còn hạn chế. Hiện nay, phần lớn sản phẩm vẫn chủ yếu tiêu thụ trong tỉnh hoặc thông qua các kênh bán hàng truyền thống. Tỷ lệ sản phẩm tham gia hệ thống siêu thị, chuỗi cửa hàng hiện đại hay các sàn thương mại điện tử còn khá thấp. Nhiều chủ thể chưa biết khai thác hiệu quả nền tảng số để quảng bá và bán hàng. Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng trực tuyến ngày càng phát triển mạnh, đây được xem là hạn chế lớn ảnh hưởng đến khả năng mở rộng thị trường của sản phẩm OCOP Nghệ An.

Liên kết chuỗi còn yếu, thiếu vùng nguyên liệu ổn định

Một trong những nguyên nhân khiến sản phẩm OCOP khó phát triển bền vững là liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ còn lỏng lẻo. Nhiều sản phẩm chưa xây dựng được vùng nguyên liệu ổn định nên sản lượng và chất lượng thiếu tính đồng đều. Nhiều chủ thể chưa hình thành được chuỗi liên kết với người dân, doanh nghiệp tiêu thụ và đơn vị chế biến. Điều này dẫn đến tình trạng sản xuất manh mún, thiếu tính bền vững và khó đáp ứng các đơn hàng lớn.

Đối với khu vực miền núi, khó khăn càng lớn hơn khi hạ tầng giao thông, logistics và dịch vụ hỗ trợ sản xuất còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí vận chuyển, bảo quản và khả năng tiêu thụ sản phẩm.

Nâng cao năng lực chủ thể OCOP là giải pháp then chốt

Trước những khó khăn trên, trong thời gian tới Nghệ An xác định nâng cao năng lực cho các chủ thể OCOP là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm.

Theo đó, tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn chuyên sâu cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất về quản trị sản xuất, quản trị tài chính, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường. Các chương trình đào tạo sẽ hướng đến tính thực tiễn, phù hợp với từng nhóm chủ thể, nhất là khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nội dung tập huấn không chỉ dừng ở quy trình sản xuất mà còn chú trọng kỹ năng kinh doanh, marketing, thương mại điện tử và chuyển đổi số. Đặc biệt, tỉnh sẽ xây dựng đội ngũ tư vấn OCOP nhằm hỗ trợ trực tiếp cho các chủ thể trong quá trình hoàn thiện sản phẩm, xây dựng thương hiệu và nâng hạng sao OCOP.

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số

Để nâng cao giá trị sản phẩm, Nghệ An sẽ ưu tiên hỗ trợ các chủ thể ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, chế biến và bảo quản. Trong giai đoạn mới các chính sách hỗ trợ sẽ tập trung vào: Đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại; Công nghệ chế biến sâu; Hệ thống sấy, bảo quản sau thu hoạch; Tem truy xuất nguồn gốc; Đóng gói và bao bì hiện đại.

Tỉnh cũng sẽ đẩy mạnh hỗ trợ chuyển đổi số cho các chủ thể OCOP thông qua đào tạo kỹ năng bán hàng trực tuyến, livestream, xây dựng thương hiệu trên mạng xã hội và tham gia các sàn thương mại điện tử. Mỗi chủ thể OCOP sẽ từng bước được hỗ trợ xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu số nhằm nâng cao khả năng tiếp cận thị trường và người tiêu dùng.

Tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ

Trong thời gian tới, Nghệ An sẽ tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm hỗ trợ sản phẩm OCOP mở rộng thị trường.

Tăng cường tổ chức hội chợ, tuần lễ giới thiệu sản phẩm OCOP tại các đô thị lớn; hỗ trợ các chủ thể tham gia hội chợ trong nước và quốc tế; đồng thời kết nối sản phẩm vào hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại và chuỗi cửa hàng nông sản an toàn. Bên cạnh đó, việc xây dựng các điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP gắn với các khu du lịch, tuyến du lịch cộng đồng cũng sẽ được chú trọng nhằm quảng bá sản phẩm đặc trưng địa phương.

Đặc biệt, tỉnh sẽ khuyến khích các chủ thể xây dựng “câu chuyện sản phẩm” gắn với văn hóa, lịch sử và bản sắc vùng miền nhằm tạo giá trị khác biệt và nâng cao sức cạnh tranh.

Phát triển vùng nguyên liệu và liên kết chuỗi giá trị

Để khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, tỉnh sẽ tập trung xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung gắn với từng sản phẩm chủ lực. Các địa phương sẽ được định hướng phát triển vùng nguyên liệu theo lợi thế như: Dược liệu tại khu vực miền Tây Nghệ An, Sen tại Kim Liên, Nước mắm tại Cửa Lò. Đồng thời thúc đẩy liên kết “4 nhà” gồm Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân nhằm xây dựng chuỗi giá trị bền vững từ sản xuất đến tiêu thụ.

Việc hình thành vùng nguyên liệu ổn định không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn tạo điều kiện để các chủ thể mở rộng quy mô sản xuất và hướng tới xuất khẩu.

Chủ thể mạnh sẽ tạo ra sản phẩm mạnh

Có thể khẳng định, chủ thể OCOP chính là trung tâm quyết định sự thành công của chương trình. Khi các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất được nâng cao năng lực về quản trị, công nghệ, thị trường và chuyển đổi số, sản phẩm OCOP mới có thể phát triển bền vững và nâng cao sức cạnh tranh.

Trong bối cảnh thị trường ngày càng yêu cầu cao về chất lượng và tính chuyên nghiệp, việc nâng cao năng lực cho các chủ thể OCOP không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là giải pháp chiến lược lâu dài.

Với những định hướng và giải pháp đồng bộ, Nghệ An đang từng bước tạo nền tảng để các chủ thể OCOP phát triển mạnh hơn, góp phần thúc đẩy kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân và xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, bền vững.

Nguồn: Anh Hùng, Chi cục KTHT&PTNT

Vương Đinh Huệ
Văn bản ban hành

Nghị quyết số 08/2026/NQ-HĐND

Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Chỉ Thị số 22-CT/TU

về đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Quyết định số 2490/QĐ-UBND

Về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiều quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 -2030 tỉnh Nghệ An

Thông tư Số 23/2026/TT-BNNMT

Thông tư Hướng dẫn thực hiện một số nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Quyết định số: 26/2026/QĐ-TTg

Quyết định ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm Mỗi xã một sản phẩm

số: 19/2026/QĐ-TTg

Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, xã đạt nông thôn mới hiện đại và tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030

Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg

Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỉ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030

1451/QĐ-UBND

Phê duyệt danh sách các xã thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

103/PTNT-NTM

Về việc đăng ký thực hiện Dự án liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Dự án 2 – Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026

827/QĐ-BNNMT

Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

14/2026/TT-BNNMT

Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

417/QĐ-BNNMT

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030


Thăm dò ý kiến

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NTM nên theo chỉ tiêu nào?

Xem bình chọn

Loading ... Loading ...
Thống kê
  • Đang truy cập0
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại421
  • Tổng lượt truy cập659
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây