10/09/2020 | 16:46

PHÁT HUY TINH THẦN XÔ VIẾT NGHỆ - TĨNH TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỈNH NGHỆ AN

PHẦN MỘT: Lấy thôn/xóm/bản làm cơ sở hạt nhân trong xây dựng Nông thôn mới

Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng Nông thôn mới là một chương trình trọng tâm của Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Sau 10 năm thực hiện, diện mạo nhiều địa phương ở nông thôn tỉnh Nghệ An được đổi thay, hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu được nâng cấp, đời sống đa số nông dân được cải thiện, hộ nghèo giảm, nhiều nét đẹp văn hóa được phát huy, tình làng nghĩa xóm được vun đắp, đội ngũ cán bộ từng bước trưởng thành. Tuy nhiên, so với mục tiêu phát triển thì còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết mới đáp ứng được yêu cầu đặt ra.

Nghệ An là nơi diễn ra phong trào đấu tranh của lực lượng công nhân và nông dân. Phòng trào này được mở đầu bằng cuộc biểu tỉnh ngày 01 tháng 5 năm 1930 của công nhân Khu công nghiệp Bến Thủy và nông dân thuộc 05 xã ven thành phố Vinh. Từ đó đến tháng 8 năm 1930, ở vùng Nghệ Tĩnh đã có đến 97 cuộc bãi công và biểu tình của công nhân và nông dân. Trong đó đáng chú ý là cuộc bãi công kéo dài của công nhân Nhà máy Diêm đã dẫn đến cuộc tổng bãi công của toàn thể công nhân Khu công nghiệp. Là một tỉnh nông nghiệp, công nghiệp dịch vụ đang từng bước phát triển. Xuất phát từ chủ trương của Đảng và Nhà nước, vận dụng lợi thế của tỉnh để đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ trong xây dựng xây dựng Nông thôn mới có góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục và an ninh, quốc phòng ở Nghệ An. Nhận thức được điều này, ngay từ những ngày đầu thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới, Nghệ An đã phát huy tinh thần sức mạnh của cả hệ thống chính trị để tổ chức thực hiện Chương trình.

Là tỉnh lớn về diện tích nhất cả nước, dân số đông, có số xã thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới nhiều, với 411 xã (đứng thứ hai sau tỉnh Thanh Hóa); Có xuất phát điểm thấp (năm 2010 bình quân mới đạt 3,64 tiêu chí/xã) nhưng với nhiều cách làm sáng tạo, vận dụng linh hoạt trong thực hiện Chương trình, Nghệ An đã phát huy tinh thần Xô viết để tổ chức thực hiện và làm cơ sở lý luận quan trọng cho sự nghiệp xây dựng Nông thôn mới với các nội dung chính như sau:

1- Lấy thôn/xóm/bản làm cơ sở hạt nhân trong xây dựng Nông thôn mới

Ảnh 1. Đoàn thanh niên Công an huyện Anh Sơn giúp dân làm đường giao thông nông thôn

Ảnh 2. Thành phố Vinh thực hiện ngày thứ bảy xanh

Là địa phương sớm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 với nhiều kết quả tích cực. Do vậy khi chương trình xây dựng Nông thôn mới triển khai đã được cấp ủy đảng, chính quyền, hệ thống chính trị và nhân dân toàn tỉnh hào hứng đón nhận. Là tỉnh thuộc vùng Bắc Trong bộ, có tới 126 xã miền núi, bãi ngang ven biển còn rất nhiều khó khăn về nguồn lực. Song với cách làm bài bản, hiệu quả, chủ động, sáng tạo, tích cực, công khai, dân chủ, đi vào thực chất không chạy theo thành tích; sự nỗ lực cố gắng, quyết tâm của cả hệ thống chính trị, của các thành phần kinh tế, của các tầng lớp nhân dân và sự chung tay góp sức của đông đảo con em quê hương trên khắp mọi miền Tổ quốc, sau gần 10 năm triển khai thực hiện, chương trình xây dựng Nông thôn mới tỉnh ta đã thu được những kết quả quan trọng.

Từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng bộ máy quản lý; công tác tuyên truyền vận động; huy động sự đóng góp của nhân dân; công tác đào tạo, tập huấn, điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng, lập quy hoạch, xây dựng đề án đến công tác triển khai thực hiện theo Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng Nông thôn mới của Chính phủ đã được triển khai nghiêm túc, khoa học, phù hợp tạo được sự đồng tình của nhân dân đến sáng tạo trong cách tổ chức thực hiện như: Chính sách hỗ trợ xi măng làm đường giao thông nông thôn, ban hành Bộ tiêu chí thôn/bản đạt chuẩn Nông thôn mới, Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn Nông thôn mới kiễu mẫu,... Diện mạo các vùng nông thôn, đặc biệt là ở các xã đạt chuẩn Nông thôn mới có nhiều khởi sắc, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao. Đã tạo được bước chuyển quan trọng về nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cộng đồng doanh nghiệp và của người dân trong việc tham gia xây dựng Nông thôn mới. Nhiều công trình kết cấu hạ tầng được nhân dân trực tiếp thi công, giám sát không chỉ có chất lượng tốt, chi phí thấp, phù hợp với địa bàn mà còn góp phần quan trọng tạo ra sự gắn kết cộng đồng, tinh thần tương thân tương ái, tình làng nghĩa xóm ngày càng bền chặt. Trình độ, năng lực, trách nhiệm và sự gắn bó của đội ngũ cán bộ với nhân dân được nâng lên. Không khí thi đua xây dựng Nông thôn mới ở các địa phương ngày càng mạnh mẽ; nhân dân ngày càng thấy rõ thêm trách nhiệm của mình, hồ hởi, phấn khởi đóng góp xây dựng Nông thôn mới.

Từ các cụ cao niên, lão thành cách mạng, người cao tuổi, chiến sỹ lực lượng vũ trang, đến các chức sắc, chức việc, nhà tu hành cho đến các cháu thiếu nhi cũng có nhiều việc làm thiêt thực chung tay xây dựng Nông thôn mới. Lễ Bông bố xã đạt chuẩn Nông thôn mới như một ngày hội lớn của nhân dân địa phương. Chúng ta rất cảm động có nhiều gia đình sẵn sàng hiến hàng trăm mét vuông đất, dỡ bỏ nhiều công trình kiên cố của gia đình mình để làm đường giao thông thôn xóm; nhiều cá nhân sẵn sàng bỏ hàng chục triệu đồng, đặc biệt có những doanh nghiệp tài trợ, đóng góp nhiều tỷ đồng để hỗ trợ xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng.

Trong triển khai, Nghệ An đã lựa chọn xóm, tổ dân phố làm cơ sở hạt nhân để vận động nhân dân xây dựng đạt tiêu chí Nông thôn mới, qua đó khích lệ từng hộ gia đình cải tạo ao, vườn, sân, ngõ, công trình vệ sinh, chủ động mở thêm nghề mới, phát triển kinh tế hộ, chăm lo đời sống vật chất tinh thần và sự phát triển của mỗi thành viên, xây dựng gia đình hạnh phúc, phấn đấu đạt tiêu chí gia đình Nông thôn mới. Trong đó, có sự phân định rõ trách nhiệm của từng cấp là: Xã chịu trách nhiệm đầu tư xây dựng, nâng cấp mở rộng các đường trục xã, liên xã, đường giao thông nội đồng, trường học, trạm xá và công trình phúc lợi khác. Thôn/xóm/bản chịu trách nhiệm huy động nguồn đóng góp của nhân dân để làm đường trục xóm, hệ thống rãnh thoát nước trong khu dân cư. Cụm dân cư lo làm đường dong ở khu dân cư. Hộ gia đình chịu trách nhiệm chỉnh trang các công trình vệ sinh, nước sạch, khuôn viên nhà ở, sân, ngõ, ao, vườn và có thêm một nghề”. Các phong trào hiến đất, ủng hộ ngày công, tiền, vật liệu làm đường giao thông, rãnh thoát nước, vệ sinh môi trường,... được kiểm tra, rút kinh nghiệm thường xuyên, đã tạo thành phong trào thi đua giữa các hộ, các thôn/xóm/bản, các tổ chức đoàn thể.

Những cá nhân, tập thể làm tốt, các mô hình, cách làm hay, sáng tạo như mua thẻ bảo hiểm y tế phát cho các tăng, ni của Hội Phật giáo huyện; tọa đàm “Người công giáo gương mẫu thực thi tân phúc âm hóa gia đình góp phần xây dựng gia đình Việt Nam bền vững” của Ủy ban đoàn kết công giáo tỉnh; “Xây dựng đường làng ngõ xóm sáng - xanh - sạch - đẹp”, cuộc vận động “gia đình 5 không 3 sạch”... được tuyên truyền, biểu dương kịp thời.

Sau gần 10 năm thực hiện xây dựng Nông thôn mới, Nghệ An đã có 246/411 xã đạt chuẩn Nông thôn mới; Bình quân tiêu chí cả tỉnh là 16,3 tiêu chí/xã. Có 04 đơn vị cấp huyện: Thị xã Thái Hoà, thành phố Vinh, huyện Nam Đàn, Yên Thành hoàn thành nhiệm vụ/đạt chuẩn Nông thôn mới. Tổng vốn huy động đạt 67.018,7 tỷ đồng (trong đó huy động từ nhân dân hiến đất, ngày công lao động đạt 10.236,2 tỷ đồng).

Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến nay đạt trên 30,4 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo đến nay giảm còn 4%; Tỷ lệ người dân tham gia Bảo hiểm y tế đạt gần 89,79%; Tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn tại Quyết định số 2570/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến nay đạt 83%; Nước sạch theo QCVN 02/2009/BYT đạt 45%.

a) Phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân

Tập trung thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp với trọng tâm là đầu tư phát triển các cây trồng, vật nuôi chủ lực và có lợi thế của tỉnh. Trong lĩnh vực trồng trọt, cây lúa vẫn chiếm ưu thế cả về năng suất, chất lượng; sản xuất lúa theo cánh đồng lớn đã có bước phát triển nhất định và đem lại hiệu quả cao cho cả người nông dân và doanh nghiệp đây được xem là mô hình liên kết có hiệu quả, bền vững từ sản xuất đến tiêu thụ, là hạt nhân để nhân rộng. Các vùng chăn nuôi tập trung của tỉnh được hình thành theo hướng trang trại và gia trại đã cơ bản kiểm soát được dịch bệnh.

Tỉnh đã và đang triển khai thực hiện một số mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, như: ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất rau an toàn...; đồng thời tăng cường hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển nông nghiệp đã được triển khai áp dụng và bước đầu đã chọn tạo được một số giống, dòng có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện địa phương và dự báo biến đổi khí hậu.

Chương trình đã hỗ trợ xây dựng được 542 mô hình, trong đó có 378 mô hình đạt hiệu quả cao, có tính nhân rộng (chiếm 69,7 %,). Điển hình mô hình sản xuất có ứng dụng công nghệ như: mô hình rau màu tại xã Nam Anh, Nam Xuân, mô hình trồng cây ăn quả sử dụng công nghệ tưới nhỏ giọt tại các xã Nam Lộc, Nam Thanh; mô hình nuôi dê sinh sản tại các xã Nam Hưng, Nam Thái, Nam Nghĩa, Nam Thượng, Nam Lộc, Nam Thanh; Mô hình nuôi gà ác liên kết tại xã Nam Nghĩa;..., đặc biệt đã xây dựng được một số mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao sản xuất rau, củ, quả trong nhà lưới tại các xã Nam Anh, Nam Phúc, Kim Liên, Hùng Tiến, Nam Cát, Nghi Liên... Mô hình Chuỗi liên kết Chăn nuôi tiêu thụ sản phẩm gà Thanh Chương, Sản xuất rau an toàn trong nhà lưới của huyện Đô Lương, TX Hoàng Mai, thành phố Vinh, Hợp tác xã Dược liệu Pù Mát; sản xuất rau củ quả theo tiêu chuẩn Vietgap của huyện Nghi Lộc; nuôi lợn đen của huyện Quế Phong, nuôi bò sinh sản của huyện Con Cuông; nuôi gà liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm đạt tiêu chuẩn Vietgap tại huyện Yên Thành; xử lý rác thải tại xã Hạnh Lâm (Thanh Chương), xã Tân Hương (Tân Kỳ); xây dựng vườn chuẩn tại xã Kim Liên (Nam Đàn), xã Trung Sơn (Đô Lương).

b) Phát triển giáo dục ở nông thôn

Công tác phổ cập giáo dục, xoá mù chữ tiếp tục được duy trì tốt. Tỉnh đã triển khai thực hiện công tác phổ cập giáo dục, xoá mù chữ theo Nghị định số 20/2014/NĐ-CP ngày 24/3/2014 của Chính phủ và Thông tư số 07/2016/TT-BDGĐT ngày 22/3/2016 của Bộ giáo dục và Đào tạo. Đồng thời, ứng dụng phần mềm phổ cập giáo dục trực tuyến để cập nhật dữ liệu phổ cập, thiết lập các loại hồ sơ, bảng biểu thống kê số liệu phổ cập giáo dục, xoá mù chữ. Đến nay có 431/431 xã hoàn thành công tác phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi và công tác xoá mù chữ: trong đó, Số xã đạt chuẩn xoá mù mức độ 1 là 431/431, đạt tỷ lệ 100%; Số xã đạt chuẩn xoá mù mức độ 2 là 422/431, đạt tỷ lệ 97,9%; 20/20 huyện thành thị (có xã) đạt chuẩn xoá mù chữ. Số xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2 là 431/431 xã, đạt 100%; Số xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3 là 400/431 xã, đạt 92,8%; Số huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2 là 20/20 huyện, thành phố, thị xã (có xã), đạt 100%; Số huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3 là 15/20 huyện, thành phố, thị xã, đạt 75%; Số xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 1 là 431/431 xã, đạt 100%; Số xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 2 là 218/431 xã, đạt 50,58%; Số xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 3 là 168/431 xã, đạt 38,98%; Số huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 1 là 20/20 huyện, thành phố, thị xã (có xã), đạt 100%; Số huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 2 là 12/20 huyện, thành phố, thị xã, đạt 60%.

c) Phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ người dân nông thôn

Trong những năm qua được sự đầu tư từ nhiều nguồn vốn khác nhau các trạm y tế vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh đã được xây dựng nhà trạm đảm bảo diện tích, quy mô và mua sắm trang thiết bị y tế đồng bộ. Bên cạnh đó, công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực luôn được ngành Y tế quan tâm đầu tư nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân và sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại. Nguồn nhân lực của trạm cũng được đào tạo nâng cao để phục vụ tốt chuyên môn. Hiện nay đối với vùng nông thôn toàn tỉnh có trên 90% trạm y tế có bác sỹ, hầu hết các trạm đều có nữ hộ sinh trung học, y sỹ sản nhi. 100% nhân viên y tế thôn bản đều đã qua đào tạo. Đồng thời, thông qua việc thực hiện xây dựng xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế đã tạo điều kiện tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hệ thống y tế tuyến xã, góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân, giảm tải cho cơ sở khám chữa bệnh tuyến trên, giảm bớt chi phí cho người bệnh.

Cùng với việc hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân được nâng cao rõ rệt. Công tác phòng chống dịch, bệnh truyền nhiễm được triển khai rộng khắp từ tuyến tỉnh đến xã. Tỷ lệ bao phủ BHYT hàng năm được tăng lên, tính đến nay đã đạt khoảng gần 90 %; Công tác phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em được tập trung triển khai các nhiệm vụ trong tâm, cụ thể: Củng cố tình hình nhân lực tham gia công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản và phòng chống suy dinh dưỡng; giám sát nâng cao chất lượng quản lý, triển khai các hoạt động tại tuyến cơ sở. Đến nay, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi thể thấp còi (chiểu cao theo tuổi) ước còn 17%.

d) Vệ sinh môi trường nông thôn, khắc phục, xử lý ô nhiễm và cải thiện môi trường tại các làng nghề

Ảnh 3. Nhân dân xã Hưng Đông Tp Vinh làm thủy lợi

 

Công tác bảo vệ môi trường ở các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn được chú trọng. Các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh đều thực hiện tốt việc lập phương án bảo vệ môi trường và ký cam kết bảo vệ môi trường hàng năm với chính quyền cơ sở. Số cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn nông thôn đạt tiêu chuẩn về môi trường tăng đáng kể; tình trạng xả thải trực tiếp ra môi trường từng bước được hạn chế. Công tác xây dựng và bảo vệ, giữ gìn môi trường nông thôn xanh - sạch - đẹp được các cấp, các ngành tích cực triển khai. Vì vậy việc xây dựng và bảo vệ, giữ gìn môi trường nông thôn xanh - sạch - đẹp là nhiệm vụ chung của mọi người và toàn xã hội.

đ) Quốc phòng và an ninh

Tập trung xây dựng lực lượng công an xã, lực lượng nòng cốt ở cơ sở thực hiện nhiệm vụ giữ vững an ninh trật tự xã hội ở nông thôn, đồng thời tăng cường tập huấn, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về an ninh trật tự cho lực lượng nòng cốt ở cơ sở và cho người dân ở nông thôn, nhất là vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa, đồng bào ít người, vùng tôn giáo... qua đó, đã nắm bắt kịp thời tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân, nâng cao ý thức cảnh giác, góp phần làm tốt công tác phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội ở nông thôn, xử lý tốt các vấn đề phức tạp phát sinh, tạo sự chuyển biến rõ nét về trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn.

Còn tiếp phần hai: Xây dựng đời sống mới cho mỗi cá nhân; Lấy văn hoá làm nền tảng; Phát huy vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội; cải thiện và nâng cao chất lượng các dịch vụ hành chính công; bảo đảm và tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân.

Th.S Hoàng Đình Ngọc

Trưởng Phòng Kế hoạch và Tổng hợp

Văn phòng Điều phối Chương trình Nông thôn mới tỉnh Nghệ An

  • Tin mới cập nhật
  • Tin đọc nhiều nhất