23/11/2018 | 08:48

Kinh nghiệm của các nước trong quản lý sản xuất giống cây có múi

Trong lịch sử phát triển công nghiệp cam trên thế giới, người ta đã được chứng kiến 2 loại bệnh dịch nghiêm trọng nhất, đó là bệnh do virus Tristeza và bệnh Greening.

 Bệnh Tristeza đã từng tiêu diệt hàng chục triệu cây giống mỗi năm ở Châu Âu và Châu Mỹ trong những năm từ đầu thế kỷ đến những năm 60 thế kỷ trước. Đến nay, nhân loại lại chứng kiến bệnh dịch nghiêm trọng thứ 2, đó là bệnh Vàng lá gân xanh hay còn có tên là bệnh Huanglongbing (Vàng chồi) hoặc là bệnh Greening.

Sức tàn phá của bệnh Vàng chồi đã được chúng tôi liên tục thông báo trên Báo Nông nghiệp VN. Trong đó đã “Cảnh báo nguy cơ tàn lụi các vùng cây có múi và đề xuất cấp bách: Phát triển sản xuất cây có múi nóng, trong khi các vườn mới trồng đều nhiễm bệnh, nhiều vườn 100% số cây bị bệnh ngay từ trong vườn ươm. Các vùng cam lớn đang có nguy cơ bị tàn lụi”.

Greening, một trong những bệnh gây hại nguy hiểm nhất trên cây có múi. (Ảnh: ST)

Qua chẩn đoán bệnh bằng các kỹ thuật sinh học phân tử, chúng tôi khẳng định rằng hiện nay ở tất cả các vùng cam nước ta đều tồn tại song song cả 2 bệnh hủy diệt trên. Nguy cơ tổn thất đã và sẽ rất lớn cho các vùng sản xuất. Chúng tôi rất hoan nghênh bài báo của ông Doãn Trí Tuệ và Trần Cao, số ra ngày 20/11 (Từ thực tế những vườn cam bệnh ở Nghệ An), một lần nữa báo động về thực trạng bệnh dịch cam ở Nghệ An và trên toàn quốc. Để hưởng ứng kêu gọi bức thiết của sản xuất, chúng tôi xin gửi đến độc giả một số kinh nghiệm quản lý giống sạch bệnh. Đây là những kinh nghiệm dù đã xưa cũ, nhưng vẫn đang còn thiết thực đối với chúng ta hôm nay.

Kinh nghiệm Mỹ

Ngay từ năm 1917, ở Mỹ (California) đã thành lập Bộ môn chọn lọc mắt ghép cây có múi. Đến năm 1933, gần 60.000 cây có múi đã được đánh giá về năng suất, khoảng 10% trong số đó đã được chọn là cây khỏe, ưu việt, dùng để cung ứng khoảng 5 triệu mắt ghép cho người sản xuất. Nhưng do thiếu kỹ thuật chẩn đoán bệnh, hàng triệu mắt ghép chọn lọc từ những cây có vẻ khỏe mạnh nhưng thực tế đã bị nhiễm bệnh là nguyên nhân lây lan rất nhiều bệnh virus và các bệnh tương tự virus. Năm 1933, tiến sỹ Fawcett H.S đã phát hiện ra nguyên nhân của bệnh vảy sừng (Psorosis) ở cây có múi, một bệnh nguy hiểm ở California lúc đó, là do virus gây ra. Năm 1945, Wallace J.M đã phát triển phương pháp chẩn đoán bệnh virus này một cách hiệu quả để đánh giá cây sạch bệnh một cách chính xác.

Năm 1937, Bộ Nông nghiệp bang California đã thành lập Văn phòng dịch vụ vườn ươm. Từ đó chương trình đánh dấu cây và đăng ký các cây mẹ có múi ưu việt sạch bệnh đã được hình thành lần đầu tiên ở Mỹ. Đến nay, thiết bị và phương pháp chẩn đoán đối với hầu hết các bệnh ở cây có múi đã có trong tay nhà nước và các công ty kinh doanh cành, mắt ghép. Tất cả cành mắt ghép do các công ty Mỹ bán ra hiện nay đều được lấy từ các cây vi ghép, cây từ phôi hạt vô tính đã qua vi ghép, cây được bảo quản cách ly và tất cả đều có chứng chỉ sạch bệnh.

Kinh nghiệm Tây Ban Nha

Tây Ban Nha là một trong các nước xuất khẩu các sản phẩm quả có múi đứng đầu thế giới. Đến những năm cuối của thập kỷ 60, bệnh virus Tristeza và các bệnh khác đã gần như phá hủy công nghiệp cam quýt của nước này. Khoảng 800 vườn ươm khác nhau ở khắp đất nước đã gây rất nhiều khó khăn cho khâu kiểm dịch do họ nhân giống từ các vật liệu đã nhiễm bệnh.

Sau đó, để kiểm soát nghiêm ngặt vật liệu nhân giống, Tây Ban Nha chỉ cho phép 13 vườn ươm được hành nghề với các vật liệu nhân giống đã được cấp chứng chỉ. Năm 1975, Navarro và cộng sự đã dùng kỹ thuật vi ghép đỉnh sinh trưởng để tạo vật liệu sạch bệnh virus. Bằng kỹ thuật này, khoảng 90 loại giống cây có múi khác nhau đã được làm sạch bệnh và cung cấp nguồn mắt ghép cho công nghiệp nhân giống. Nhờ đó, một lần nữa nước này lại khôi phục vị trí dẫn đầu về xuất khẩu quả có múi. Kinh nghiệm cốt yếu của Tây Ban Nha là tổ chức các trạm phòng dịch và vườn ươm cách ly chuyên trách cấp nguồn cành mắt ghép sạch bệnh cho cả nước.

Kinh nghiệm Trung Quốc

Từ năm 1979, nghề trồng cây có múi ở Trung Quốc đã được khôi phục mạnh mẽ nhờ cải tổ kinh tế và nhờ thực hiện nghiêm ngặt 10 điều chỉ dẫn của Lin K.S về sản xuất giống cây có múi sạch bệnh ở hầu hết các tỉnh (xem 10 điều chỉ dẫn ở phần sau). Thực hiện 10 điều chỉ dẫn này, Trung Quốc đã huy động chiến dịch diệt trừ cây bệnh và vườn bệnh, các vùng có khoảng 50% số cây nhiễm bệnh được coi là vùng nóng phải chặt phá bỏ hoàn toàn, kèm theo phun thuốc diệt trừ các côn trùng truyền bệnh. Chiến dịch điều tra và diệt cây bệnh được thực hiện thường xuyên. Các vườn cây mẹ và vườn ươm cách ly bằng nhà lưới đã được xây dựng. Hệ thống vườn ươm và vườn cây mẹ của các tỉnh trồng cam quýt chính ở Trung Quốc như Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây đã bảo đảm giống sạch bệnh cho sản xuất, đặc biệt là sạch các bệnh nguy hiểm như vàng chồi (greening), tristeza, loét (canker) và nấm rễ (phytophthora).

Hướng dẫn kỹ thuật trồng cam tại vườn. (Ảnh: Báo Quảng Trị)

10 điều chỉ dẫn, đó là:

1. Hình thành vườn ươm hoặc vườn cây ít nhất là ở cách vườn đã nhiễm bệnh 5-8 km. Diệt tất cả các cây có múi mắc bệnh trong bán kính 5-8 km xung quanh vườn ươm.

2. Sử dụng nước nóng để xử lý hạt gốc ghép (56oC trong 50 phút).

3. Sử dụng chồi đã khử trùng (49oC trong 50 phút) hoặc lấy mắt ghép từ cây sạch bệnh có nguồn gốc từ phôi vô tính.

4. Áp dụng các biện pháp kiểm dịch để bảo vệ vườn ươm và khu nhân giống bằng cấm nhập giống từ bên ngoài vào vùng nhân.

5. Bảo vệ vườn ươm và khu nhân giống bằng hàng rào hoặc rào chắn gió và tạo cửa 2 lớp. Giữa 2 cửa để khoảng đủ rộng để làm sạch giày, dép, thay quần áo, mũ để tránh vii sinh vật và vectors lọt vào.

6. Tránh để khách vào nhà trừ khi họ khử trùng giày dép và mang quần áo đặc biệt.

7. Khử trùng dụng cụ và dao kéo và kiểm tra chất lượng nước tưới.

8. Luôn ngăn cách giữa khu vực vườn ươm cũ với khu vực vườn ươm mới và vườn cấp 1.

9. Quan sát thường xuyên và phải diệt ngay các cá thể nhiễm bệnh (greening, canker, phytophthora...).

10. Phân phối giống sạch bệnh trong túi bầu đặc biệt có ghi tên giống và gốc ghép.

GS.TS ĐỖ NĂNG VỊNH

TRẦN CAO (GHI)